Chủ Nhật, ngày 01 tháng 6 năm 2014

VŨ ÁNH VÀ TÔI – CHUNG MỘT ĐOẠN ĐỜI

VŨ ÁNH VÀ TÔI – CHUNG MỘT ĐOẠN ĐỜI

   (Xin gởi đến hương hồn anh Vũ Ánh
   như một nén nhang tiễn biệt.
   Và đến chị Yến Tuyết
   như một lời chia buồn muộn màng)
             Phạm Đức Nhì


Một Tâm Hồn Trẻ Trung Sôi Nổi

Ngày đầu tiên bị giải đến Trại Trừng Giới A20 Xuân Phước, tất cả chúng tôi – thành phần cứng đầu, khó cải tạo từ các trại -bị lùa vào hội trường để được dằn mặt và đưa vào khuôn phép. Mở đầu là màn văn nghệ ca tụng đảng và nhà nước có tính cách bắt buộc. Cán bộ giáo dục yêu cầu một người tù trong chúng tôi ra bắt giọng cho mọi người hát một bản nhạc cách mạng để lấy khí thế. Hối thúc hoài cũng chẳng ai thèm ra. Cuối cùng, khi hắn giở giọng đe dọa thì tôi nóng mặt đứng lên bắt nhịp cho anh em hát bài Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ của Nguyễn Đức Quang. Được gãi đúng chỗ ngứa anh em hát muốn bể tung hội trường. Cán bộ giáo dục và ban thi đua ú ớ chẳng biết gì nên dù "ngờ ngợ có cái gì không ổn" cũng không làm chi được. Sau buổi họp, mấy bạn trẻ như Tú Cường, Nguyễn Hữu Hồng ... đến bắt tay tôi tỏ vẻ đồng cảm và ngưỡng mộ một hành động nhanh trí và can đảm, giữa đường thấy chuyện bất bình thì phản ứng liền. Đám trẻ của chúng tôi là như vậy. Tôi bắt tay các bạn một cách vui vẻ rất ... bình thường. Riêng anh Ánh, lúc ấy đã gần 40, vẻ mặt trí thức, chững chạc đến vỗ vai, bắt tay tôi đã là ... đặc biệt rồi. Anh lại còn ôm chặt tôi ra vẻ rất quý mến: "Tôi tưởng cậu hát nhạc của tụi nó nên đã muốn chửi thề trong miệng, nhưng khi nghe câu hát đầu tiên tôi khoái quá, hát muốn khàn cả cổ". Tôi với anh quen nhau, gần gũi nhau ngay từ hôm ấy. Sau này ra hải ngoai anh còn viết bài Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ Của Nguyễn Đức Quang Trong Nhà Tù Cộng Sản kể lại sự kiện này. Tôi có cảm tưởng ở cái tuổi của anh lúc ấy, đối với một sự việc bình thường như vậy, thái độ "nóng máu muốn chửi thề" của anh, thật giống bọn trẻ chúng tôi: Rất Trẻ Trung Và Sôi Nổi.

Dáng Đứng Hiên Ngang Bất Khuất

Sau 2 tháng bị cùm, bị đánh, bị bỏ đói, bỏ khát cho chết, nhờ có được bản năng và khát vọng sinh tồn mạnh mẽ của tuổi trẻ, tôi đã không chết, và khi cán bộ trực trại mở cửa xà lim, tháo cùm, tôi vẫn còn đủ sức vừa đi, vừa bò khoảng 30 mét ra khỏi khu biệt giam để rồi đươc các bạn tù xốc vai dìu về khu nhà ở. Vừa được anh em giúp tắm rửa xong thì tất cả có lệnh lên hội trường. Trật tự thông báo đích danh tôi (Phạm Đức Nhì), dù đang nằm xoải chân, xoải tay, hết hơi, hết sức, cũng không được ở lại phòng.

Chủ Nhật, ngày 13 tháng 4 năm 2014

5 Tướng VNCH tử tiết ngày Quốc Hận




Tướng Nam, Tướng Phú, Tướng Vỹ, Tướng Hưng, và Tướng Hai thương quân như con, hy sinh thân mình để tránh máu đổ thịt rơi không cần thiết của binh lính và Bá Tánh thì dù có chiến bại cũng xứng đáng gọi là Đức tướng, Lương tướng, và Hiền tướng vậy.


Thật vậy, 5 Tướng VNCH tuẩn tiết trong ngày 30/4/75 đã lấy cái chết của mình để tránh một cuộc tương tàn máu lệ thay vì quyết định chiến đấu một mất một còn đến hơi thở cuối cùng. Đó là Dũng và Đức của bật đại nhân vậy.

Cứ nghiệm đi rồi biết.



Chủ Nhật, ngày 06 tháng 4 năm 2014

TIỄN ĐƯA A20 VŨ ÁNH

TIỄN ĐƯA A20 VŨ ÁNH

Anh lặng lẽ về nơi cõi Phật
Chúng tôi buồn chất ngất tiễn đưa anh
Anh đã 73,
Sống chết cũng thường tình
Nhưng đưa tiễn bạn mình,
Sao đau thế !!!.

Anh chán ngấy cõi đời dâu bể
Chốn cơ hàn ganh ghét với cùm gông
Nhưng liệu anh có thực quên không?
Vợ con anh vẫn phiêu bồng cõi thế!

Nói về anh bạn tù luôn nhắc kể
Chén khoai mì muối bể trắng như bông
Cùm chữ U xiết chặt trẹo đôi mông
Đêm quạnh quẽ tử thần về đâu đó.

Anh coi lũ cai tù như sâu bọ
Ngày viết báo chui, đêm hát nhạc vàng
mười ba năm đói khổ vẫn hiên ngang
Cất tiếng hát vang vang nơi địa ngục.

Đất nước đảo điên nổi trôi cùng thế tục
Hết phát thanh, làm báo, đến phóng viên
Lúc đạp xích lô, xẻ gỗ kiếm thêm tiền
Hết cầm bút, cầm cưa, rồi cầm súng.

Tôi thương anh người trai kiêu dũng
Nụ cười hiền đôi mắt sáng long lanh
Anh đã bền gan hiến cả đời mình
Cho lẽ phải công bình trên trái đất.

Hôm nay anh đi về nơi cõi Phật
Bao tấm lòng chân thật đến đưa anh
Hãy cứ ra đi, dù giấc mộng chưa thành
Mưa bão hết lộng hành trời sẽ sáng.

(A.20 Nguyễn Đức Thành)

      Cali 3/15/2014

Thứ Ba, ngày 25 tháng 3 năm 2014




20 Bùi Đạt Trung đọc Điếu Văn 

-Kính thưa Chị Ánh và Tang Quyến
-Kính thưa Quý Thân Hữu
-Kính thưa các Cựu Tù A.20 Xuân Phước

Tôi xin đại diện Đại Gia đình A.20 Xuân Phước
xin gửi đến Hương Hồn anh Ánh một "Nén Hương tưởng niệm"

Nén hương tưởng niệm

Một nén hương
Thắp cho anh
Vũ văn Ánh
A20 trừng giới năm nào
Trong gông cùm
Hầm tối biệt giam
Dù thân xác
Hao mòn,đói khát
Ngẫng cao đầu đối mặt
Loài dã thú thành người
Hành hạ anh từng ngày tháng
Chúng cố diệt
Tinh thần người bất khuất
13 năm tù
6 năm biệt giam
Không dài,cũng chẳng ngắn
Sống hiên ngang
Không gục đầu,không khuất phục
Vẫn một lòng bền dạ
Trước kẻ thù hiểm ác
Rồi năm tháng trôi qua
Trở về nơi chốn cũ
Bên mẹ già
Cùng đứa con thơ dại
Chiếc xích lô
Bạn đồng hành
Trong cuộc sống kẻ sĩ
Thế rồi
Đời viễn xứ
Tha phương đất khách
Tiếp bước hành trình
Tìm lại sân chơi
Vẫn biết kẻ còn,người mất
Với bạn bè dựng lại cuộc chơi
Bằng ngòi bút thay cho súng đạn
Mong một ngày
Quang phục lại quê hương
Mặc bao tiếng thị phi
Ghen ghét và đố kỵ
Vẫn tiếp tục
Dấn thân vì lý tưởng
Một buổi chiều thứ sáu
Ảm đạm đau buồn
Đột ngột anh từ giã
Bỏ bạn bè
Bỏ cả người thân
Gây bao niềm thương nhớ
22 năm dài
Vắng mặt trên sân
Khi biết được tin nhau
Chưa một lời thăm
Anh đã về
Nơi miền miên viễn
Tôi không là thi sĩ
Chẳng phải là nhà văn
Chỉ biết ngồi ghi lại
Thay cho nén nhang buồn
Tưởng niệm bạn tù cũ
Mong nơi chốn vĩnh hằng
Thanh thản và bình yên.
A20 TMH


Thứ Tư, ngày 19 tháng 3 năm 2014

Vũ Ánh: Món Nợ Văn Hoá & Tình Chiến Hữu

Vũ Ánh: Món Nợ Văn Hoá & Tình Chiến Hữu

Sáng nay dậy sớm check mail, tôi thấy bàng hoàng về cái tin “Thương tiếc chiến hữuVũ Ánh” của anh Võ văn Sáu (Góp Gió), người bạn cùng trại tù A20 Xuân Phước với anh. Tôi không mấy tin vào sự thực của tin tức trên mạng. Nhưng khi đọc bài chia xẻ tâm tình của anh, thấy nhắc tin anh Tống Phước Hiến “ chia buồn” tôi mới lặng đi và tin đó là sự thực...
Đúng ra tôi với anh Vũ Ánh không quen biết nhau nhiều. Anh chỉ là người bạn của chú em tôi Phạm đức Nhì, bạn tù với anh ở Trại Trừng giới Xuân Phước mà chú tôn là bậc đàn anh rất thân thiết và tôn qúy. Từ đó qua giao tiếp của em tôi, tôi có dịp gặp gỡ đôi lần.
Trước đây khi còn trong quân ngũ ở bên nhà, tôi biết rất ít về anh vì mỗi người phục vụ ở mỗi môi trường riêng. Tôi thực sự biết đến tên anh qua bài phóng sự về một đơn vị Nghĩa quân thuộc Vùng Bốn Chiến Thuật. Chuyện kể về anh trung đội trưởng nghĩa quân ở vùng quê “xôi đậu”. Gia đình có hai anh em đã trưởng thành, vẫn sống chung với mẹ. Anh là lớn rất cương nghị có lập trường quốc gia sắt thép, đã đối xử với người em theo CS một cách rộng lượng nhưng cũng rất cương quyết, khiến bà mẹ vì thương con phải cưu mang, vô cùng khó xử. Đã lâu lắm rồi không còn nhớ hết tình tiết câu chuyện, nhưng qủa thực bài viết của anh đã tạo ấn tượng sâu sắc trong tôi về những giằn vặt và ngang trái của những đứa con khác chính kiến cùng một mẹ, và những đớn đau thổn thức của bà mẹ Việt Nam.
Sau này tôi có biết tên và vai trò chứng nhân của anh những giây phút cuối cùng của Miền Nam Việt Nam, qua việc thu băng lệnh đầu hàng của TT Dương văn Minh tại Đài phát thanh quân đội như anh Võ văn Sáu đã kể, nhưng tôi vẫn chưa từng biết mặt.
Trong những năm sau này, chú em tôi có gởi cho tôi những bài viết về những hoạt động báo chí văn nghệ phản kháng trong trại A20 với những bài thơ nhạc nức lòng tranh đấu của những người trẻ dù bị ngược đãi  tận cùng nhưng vẫn hiên ngang không biết sống chết là gì.  Trong những tác phẩm đấu tranh viết bằng máu và nước mắt đó có những bài Thơ Chống Cộng hừng hực chí căm hờn và bài viết của chú: “ Những Tiếng Hát Bừng Sáng A20.” Qua đó tôi biết được vai trò của anh Vũ Ánh, một người gương mẫu gan dạ, được sự tín cẩn, khâm phục, nể vì của các anh em trong vai trò lãnh đạo văn nghệ và báo chí đấu tranh. Tất nhiên trong hoạt động phản kháng anh em đã phải chiụ đựng sự đàn áp khát máu của cai tù, nhưng theo chú, mỗi khi gặp tai ương anh đều nhận hết trách nhiệm thay cho các anh em khác. Đây là một điểm son mà anh em ghi nhận và khâm phục ở phong cách, lý tưởng và bản lãnh nơi anh.  
Rồi một lần, cách nay có đến trên mười năm, chú em tôi Phạm đức Nhì từ Taxas qua chơi, chú có mời anh chị Vũ Ánh đến nhà. Lúc ấy anh Vũ Ánh có lẽ khoảng sáu mươi, tóc còn đen và trông rất chững chạc.
Đây là lần đầu tiên tôi được hân hạnh biết anh chị Vũ Ánh. Lúc ấy gia đình chúng tôi qua Mỹ cũng chưa lâu, chị Yến Tuyết đã làm ở cơ quan an sinh xã hội nên rất sốt sắng trao đổi với chúng tôi những thông tin hữu ích mà chị biết. Riêng anh, dù chỉ mới sơ giao nhưng qua câu chuyện trao đổi, tôi nhận thấy ở anh một mẫu người điềm đạm, hiểu biết và chân tình. Điều làm tôi cảm động và lúng túng, đã giữ mãi ấn tượng đến nay là ở chỗ cá tính khiêm cung, trung thực trong cách xưng hô mà tôi gọi là “món nợ văn hoá.” Tôi mong ước được thanh thoả khi có dịp gần gũi hơn, nhưng chuyện đã không bao giờ có thể...
Số là, vốn biết tôi vai anh của chú Nhì nên khi gặp mặt, anh rất vui vẻ tự nhiên. Anh “xưng em” với chúng tôi một cách thoải mái, chân tình mặc dù tuổi tác lúc ấy tôi được Nhì cho biết, trên tôi vài tuổi.
Tất nhiên tôi rất e ngại và cảm thấy lúng túng ngại ngùng. Tôi thành thực xin anh coi như bè bạn, vì anh cũng là một chiến hữu, còn chú Nhì là trong thân tộc họ hàng. Anh chậm rãi trả lời, vì anh chơi với chú em tôi như anh em trong gia đình nên cũng coi tôi như anh.
Câu trả lời và cách cư xử của anh rõ ra là một người đôn hậu và thấm nhuần văn hoá dân tộc. Mặc dù tôi rất ngại ngùng, không thuyết phục được anh thay đổi cách xưng hô, nhưng tôi phải nhìn nhận tính khiêm cung nhân hậu của anh là một ưu điểm hiếm thấy nơi những thế hệ sống tại hải ngoại “qúa dồi dào lòng tự hào” như chúng ta. Tôi trộm nghĩ, nếu như mọi người đều trong lòng thành thực cư xử tử tế vơi nhau như anh, chắc hẳn cộng đồng chúng ta phải khác nhiều như chúng ta hằng mong ước.
Lần thứ nhì cách nay không xa, anh đến tôi để đón chú em đi dự buổi hội ngộ các bạn tù A20 tổ chức tại Cali. Lần này tóc anh đã bạc nhiều. Trông anh khá bận rộn nhưng vẫn còn khoẻ mạnh. Tranh thủ gặp anh, tôi có hỏi về câu chuyên ông thày bói và báo xuân Người Việt dạo nào, anh rầu rĩ tâm sự, qủa là lỗi của anh. Là chủ bút tờ báo xuân anh chiụ hoàn toàn chịu tràch nhiệm. Lý do là, bận rôn quá anh ngủ thiếp đi không kìểm soát hết được bài vở lên khuôn, nên đã có kẻ lợi dụng. Anh rất ân hận về việc làm tắc trách đó và xin chịu trách nhiêm trước độc gỉa.
Hôm nay anh đã vĩnh viễn ra đi ở tuổi bảy ba. Với anh, tôi nghĩ lương tâm không có gì phải ân hận dù anh trong khi làm việc có phạm một vài sai sót ngoài ý muốn. Tôi thành tâm nghĩ rằng một người có tấm lòng nhân hậu với bạn bè và tha thiết với quê hương như anh, phải được đối xử công bằng; đừng để những ngộ nhận làm nản lòng và che phủ những tầm lòng cao đẹp đã có một thời cùng chung chí hướng hiến dâng cho quê hương đất nước khổ đau. Xin hãy trả lại cho gia đình anh niềm hạnh phúc và tự hào đã cùng anh chia xẻ.
Vĩnh biệt anhVũ Ánh! Món nợ văn hoá tôi không bao giờ được trả, nhưng những tình cảm qúi mến trong tôi vẫn mãi hướng về anh.
Xin nguyện cầu ơn trên ban hồng phước cho anh được an nghỉ nơi cõi vĩnh hằng,
Xin chân thành chia xẻ sự mất mát to lớn của chị Yến Tuyết và các cháu.
Một chiến hữu qúi mến và thương tiếc anh,


Phạm Đức Khôi

-----------------------------------------------------------------------

Thứ Ba, ngày 18 tháng 3 năm 2014

Anh Vũ Ánh và Tôi
Nguyễn Khanh, GĐ Ban Việt ngữ RFA
2014-03-16




  • vu-anh-305.jpg

Nhà báo Vũ Ánh
Courtesy Người Việt/Triết Trần
“Lính mới”
Tôi gặp anh lần đầu cách đây cũng hơn chục năm. Lúc đó tôi còn là thông tín viên ở Washington D.C. của Nhật Báo Người Việt, vài tháng lại được anh Đỗ Ngọc Yến hay anh Lê Đình Điều gọi về California họp hành, bàn chuyện. Trong một lần về tòa soạn, một trong hai anh giới thiệu tôi với anh Vũ Ánh, bảo “đây là người mới nhất của mình”, ý muốn bảo anh là “lính mới” của tờ báo.
Tôi nhớ như in anh cười rất tươi, vừa bắt tay tôi vừa bảo “mới từ DC xuống hả”, nói thêm “tôi có nhiều người bạn thân trên đó lắm”, nói xong anh kể một dọc những tên tuổi của làng báo Việt Nam ngày xưa, trong số đó có ông vẫn theo nghề cũ như anh Phạm Trần làm việc ở Đài VOA, cũng có những ông buông bút từ ngày lên đường vượt biển. Anh cũng bảo với tôi là từng có lúc sống ở Virginia, “bên đó lạnh quá, tôi chạy sang bên này thời tiết ấm hơn”.

Thứ Hai, ngày 17 tháng 3 năm 2014

Người bạn đồng nghiệp đầy nhân hậu

Nhà báo Vũ Ánh : 
Người bạn đồng nghiệp đầy nhân hậu  .

LỜI TÒA SOẠN : (Bài viết dưới đây là của ông Lê Phú Nhuận, người đồng nghiệp lâu năm vói nhà báo Vũ Ánh . )
Từ năm 1965, giới truyền thông miền nam Việt Nam, từ truyền thông chính phủ, đến các báo tư  nhân, đã có một bước chuyển mình rất rõ nét, từ cung cách thụ động xưa cũ, sang một sắc thái mới, tích cực hơn, chủ động và đầy sống động, với một lớp phóng viên trẻ, được đào tạo theo các tiêu chuẩn quốc tế. Trong số ký giả trẻ đó có Vũ Ánh, người vừa mới qua đời hôm 14 tháng 03 vừa qua, tại California, hường thọ 73 tuổi.
Trong suốt thời gian từ 1965 cho đến tháng Tư 1975, tôi làm việc song hành với Vũ Ánh trong cơ quan truyền thông chính phủ, và cũng chia xẻ nhiều điều mà người khác không có được. Vì thế, ngoài tình đồng nghiệp qua nhiều lần sinh tử có nhau, còn là một tình bạn nhiều trân trọng.
Năm 1966, đài phát thanh Sài gòn cử tôi và Vũ Ánh ra Đà Nẵng để phụ trách phần tin tức, thời sự cho một đài phát thanh mới thành lập. Tại đây tôi là người chứng kiến những bước đầu đời của Vũ Ánh đi vào cuộc hôn nhân thứ nhất, mà sau này cũng có nhiều oan khuất. Tôi cũng là người đã vác cuốc xẻng đào huyệt mộ để chôn cất một trong hai đứa con trai bé nhỏ của Vũ Ánh , đã chết vì phỏng nước sôi quá nặng. 

Thứ Bảy, ngày 15 tháng 3 năm 2014


Vĩnh biệt chú Vũ Ánh!





BY NGOCLAN · MARCH 14, 2014 · 
·










Vừa kết thúc một cuộc phỏng vấn lúc 7 giờ tối thì nghe tin: chú Vũ Ánh qua đời!
What? Tôi sửng sốt.
Chạy vào phòng Biên Tập, thấy anh Thiện Giao. “Chú Ánh mới mất hả anh Giao?” – “Ừ, đang confirm tin này.”
Tôi thẫn thờ.
Dĩ nhiên ngay lúc đó không ai có thể gọi cho cô Yến Tuyết, vợ chú Vũ Ánh, được hết.

Thứ Tư, ngày 25 tháng 12 năm 2013

KHÔNG CÒN ĐÔI NẠNG GỖ

KHÔNG CÒN ĐÔI NẠNG GỖ




* Thương tiếc Việt Dzũng

Đường anh đi nhẹ tênh, không cần đôi nạng gỗ
Bao nhiêu niềm thương nhớ, bao ước vọng hoài mơ
Anh để lại nguồn thơ cho cuộc đời hiện thực
Trái tim hồng đỏ rực như ánh sáng mặt trời

Anh đi về biển khơi, không cần đôi nạng gỗ
Anh chèo mưa bão tố đi cứu vớt hình hài
Đại dương nào chờ ai? Anh là con sóng biển
Thuyền đi vào miên viễn, anh gọi tiếng bi ai

Cuộc đời bao chông gai, anh vượt qua khốn khó
Con tim buồn trăn trở, đôi nạng gỗ cưu mang
Anh hát lời ca vang, Khúc Da Vàng nhỏ lệ
Lời Kinh Đêm của Mẹ xoa dịu vết đau thương

Tiếng hát vượt trùng dương trên bước đường hoạn lộ
Dòng đời trăm nhánh trổ nên nước mắt cạn nguồn
"Chút Quà Cho Quê Hương" bao tình thương nỗi nhớ
Triệu người qua thống khổ, triệu người tim nát tan

Anh ôm đàn tình tang hát ru đêm bất tận
Con tim không thù hận đi gieo rắt tình người
Cuộc đời vẫn nổi trôi, quê hương còn đen tối
Bao năm dài mong mỏi cho đất nước yên vui

Anh không còn đơn côi trên dòng đời bão nổi
Trái tim không mệt mỏi cho khát vọng quê hương
Anh là nguồn yêu thương, tin yêu và hy vọng
Vòng tay anh mở rộng cho đất nước tình người

Anh như làn mây trôi giữa khung trời tĩnh lặng
Không gian buồn sâu lắng trong tiếng gọi tên anh
Bầu trời xanh vẫn xanh, anh yên lành giấc ngủ
Cuộc đời như quá đủ cho giấc mơ một người.



Xuân Mai

VÔ CÙNG THƯƠNG TIẾC!



VÔ CÙNG THƯƠNG TIẾC!








Việt Dzũng, nhạc sĩ, nghệ sĩ, nhà báo, người hoạt động quên mình, tận tâm, không ngừng cùng đồng bào hải ngoại giương cao ngọn cờ vàng chính nghĩa chống cộng sản, tranh đấu cho quyền làm người, tình thương và công lý, chân thiện mỹ, truyền thông và nghệ thuật. Anh Việt Dzũng là con cưng của nước Việt, vừa qua đời tại nam California hôm nay Thứ Sáu ngày 20.12. 2013.
Nguyện cầu cho linh hồn Việt Dzũng vĩnh viễn bình an ở Nuớc Trời cùng Thiên Chúa, các Thánh, và các Anh Hùng Dân Tộc Việt Nam muôn thuở.


 
Nghệ sĩ Việt Dzũng

Suốt hơn ba mươi năm nay, Việt Dzũng là một cái tên quen thuộc với hầu hết mọi người Việt đang sinh sống ở hải ngoại, kể cả rất nhiều người dân trong nước cũng biết đến tên anh..Nhưng cho tới nay vẫn chưa có ai viết cho thật đầy đủ về người nghệ sĩ đa tài này và những đóng góp to lớn của anh trên nhiều lãnh vực khác nhau, nhứt là trong địa hạt ca nhạc và truyền thông đại chúng. Bên cạnh đó, anh cũng thường xuyên là đề tài cho các tờ báo trong nước tấn công từ hơn hai chục năm nay, với những lời vu cáo, mạ lỵ nhằm dìm anh xuống đáy vực sâu.

Chủ Nhật, ngày 24 tháng 11 năm 2013

Chào anh lần cuối !

Chào anh lần cuối !

Khi phải nói hai chữ Giã Biệt hay mạnh mẽ hơn Vĩnh Biệt thì qủa thật phải đau lòng nhưng chúng ta phải chấp nhận vì sự ra đi của con người không do con người quyết định theo lệ thường. Tuy rằng không có cái may mắn được sống gần anh San để hiểu anh, học hỏi từ anh, dù chỉ được gặp anh trong phút chốc tôi vẫn có ấn tuợng tốt đẹp về anh qua cử chỉ và từ ngữ anh dùng.
Hôm qua ngày 11 tháng 11 là ngày Veteran Day của Hoa Kỳ đang xem những thước phim của các cựu quân nhân Hoa Kỳ từng tham chiến tại Việt Nam quađài H.2. Khi nghe những phân tích nhận định của chính những người cựu quân nhân này kể lại tôi vừa buốn vừa tức giận khi nhớ lại hoàn cảnh đau thương của đất nước mình. Mọi việc của đất nước đã vượt khỏi tầm tay của người Việt chúng ta. Chính vì vậy mà ngày 30 tháng 4 năm 1975 phải đến để rồi thương sao những người quân nhân Hoa Kỳ đã hy sinh trên đất nước ta và cựu chiến binh Hoa Kỳ đã từng đặt chân đến quê hương chúng ta với hơn 2 triệu rưỡi lượt người. Với quân lực VNCH có biết bao chiến sĩ đã hy sinh và biết bao người tàn phế nhưng cuối cùng người Việt chúng ta nói chung đã nhận lấy sự đau thương như ngày nay. Tuy rằng trên thực tế quê hương chúng ta không còn chiến tranh nhưng hậu quả vẫn kéo dài đến tận ngày nay và sẽ còn tiếp diễn ởtương lai. Chúng ta những thành phần đã từng bị tù tội, ngược đãi trong thời gian dài và vẫn còn kéo dài đến hiện tại.
Anh Trần Danh San sau bao năm trời vẫn tiếp tục chiến đấu dù trên tay anh không súng đạn nhưng những việc làm, lời nói và những bài viết của anh vẫn là những viên đạn giá trị đẻ gởi cho chế độ Cộng Sản và là phương tiện để đòi quyền sống cho dân tộc. Anh không phải là người cầm súng như chúng tôi nhưng anh đã hành xử quyền của một công dân nước Việt để rồi cùng chung số phận như chúng tôi.

Thưa anh,
Được tin anh ra đi, chúng tôi thật bất ngờ và xúc động. Anh đã miệt mài đấu tranh cho tự do, dân chủ và nhân quyền trong suốt cuộc đời của anh. Anh đã tự nhận lấy trách nhiệm của một người công dân để hiên ngang lên tiếng giữa lòng địch vào ngày 23 tháng 4 năm 1977 để rồi anh chấp nhận vào tù ra khám. Nhiệm vụ đấu tranh cho nhân quyền là một nhiệm vụ quá nặng nề, khó khăn nhưng cũng rất vinh hạnh mà tổ quốc và nhân dân kỳ vọng, anh cũng như chúng tôi đưa vai gánh vác nhưng tiếc thay sự kỳ vọng đó chúng ta đã không hoàn thành. Anh đã làm hết khả năng của anh, và nhiệm vụ của anh đã hoàn thành, anh giờ đây ra đi, chúng tôi còn lại dù tuổi đời chồng chất chúng tôi cũng sẽ tiếp tục công việc đang làm.

Thưa anh,
Với thời gian chắc chắn anh em ta sẽ có một cuộc Hội Ngộ cuối cùng và toàn diện. Hẹn anh ngày ấy.
Cùng với các niên trưởng và bạn bè, thằng em xin đứng nghiêm chào anh lần cuối.

A.20 Đạo Trần
Columbus, Ohio.


tiếng hò khoan đã tắt

 Tưởng niệm
LS Trần Danh San,
           tiếng hò khoan đã tắt 
  
Phan Nhật Nam 
Phan Nhật Nam


Ngày 11 tháng 11 năm 1960, ngày lực lượng Nhảy Dù thực hiện cuộc binh biến báo hiệu cơn sóng gió của chiến cuộc và chính cuộc Miền Nam. Cũng là ngày gã thiếu niên 17 tuổi hiểu rõ Nỗi Đau và Sự Chết có thật dâng lên ngập ngập trong thân, trong lòng. Cảm giác, phản ứng nôn nao sinh tâm lý làm nghẹn đường thở, rì rầm âm động nơi trái tim với câu hỏi.. Mẹ bây giờ ở đâu? Mẹ sống, chết ra làm sao? Em đang nơi nào? Làm sao để sống? Ngày 11 tháng 11 năm nay, 2013, Lễ Cựu Chiến Binh ở Mỹ, người lính không vũ khí nặng lòng, mệt nhọc, buông xuôi... Chứng kiến Người Bạn ra đi sau những ngày, giờ chạm dần vào cánh cửa vô hình hiển hiện của Sự Chết. Trần Danh San ra đi thanh thản sau khi đã sống đủ một đời kiệt liệt.


Hai Luật Sư Trần Danh San (trái) và Triệu Bá Thiệp đang chào mừng thân hữu cựu tù Phan Ðăng Lưu trong buổi kỷ niệm ngày ra “Tuyên ngôn Nhân quyền của những người Việt Nam khốn cùng.” 

Tôi với anh không phải là bạn đồng trang lứa. Anh lớn tuổi thuộc lớp niên trưởng nếu ở trong quân ngũ, của sinh hoạt văn hóa, chính trị, xã hội Sài Gòn, Miền Nam  trước 1975. Anh là luật sư Tòa Thượng Thẫm Huế, con rể cụ Vũ Đăng Dung, Thủ Lãnh Luật Sư Đoàn Sài Gòn, giai cấp xã hội với chuyên môn nghề nghiệp thuộc thành phần lãnh đạo ở miền Nam, cũng là của hệ thống cầm quyền thuộc các chế độ dân chủ pháp trị trên toàn thế giới. Tôi chỉ là sĩ quan cấp úy của một binh chủng thuần thành tác chiến. Nhưng chúng tôi đã nên thân thiết qua một liên hệ bằng hữu chặt chẽ. Bởi cả hai cùng chung trận tuyến quyết liệt không chấp nhận người, chủ nghĩa, chế độ cộng sản. Cho dẫu hơn ai hết, tôi và anh đồng hiểu rõ chỉ là hai cá nhân hạn chế bởi những điều kiện khách quan lẫn chủ quan, vật chất và tinh thần cần thiết cho cuộc chiến đấu không khoan nhượng và không cân sức nầy. Cuộc chiến đã bị thất bại cụ thể với Ngày 30 Tháng 4 năm 1975. Nhưng chúng tôi không hề thất vọng và tiếp tục phần đương cự trong những hoàn cảnh, điều kiện riêng.

Tôi không hề ngoa ngôn, xưng tụng vô cớ. Xin minh chứng sức mạnh tinh thần, bản lãnh kiên cường của một Con Người – Điển hình của Kẻ Sĩ Việt Nam              

Năm 1977, Sài Gòn, miền Nam đang trong gọng kìm gay gắt của chế độ cộng sản theo khuôn mẫu trại lính của Liên Xô thời Stalin. Đúng ra là hình thái trại tập trung khổng lồ nối dài từ miền Bắc theo khuôn mẫu xã hội xã hội chủ nghĩa của tổng bí thư Lê Duẩn. Trại tập trung bao gồm toàn bộ quân dân cán chính VNCH và gia đình, cùng tất cả thị dân miền Nam. Khối đông người được nói rõ ra là bị xếp vào hạng thứ 14 của 15 giai cấp xã hội theo cách đánh giá từ Bộ chính trị đảng cộng sản Hà Nội. Hạng thứ 15 là thành phần tội phạm hình sự gia trọng bị chung thân khổ sai, hoặc chờ thi hành án tử hình của một loại tòa án nhân dân do những cán bộ cộng sản từ bưng biền miền Nam, từ miền Bắc vào ngồi ghế chánh án. 

Sau sự kiện giới trí thức Tiệp Khắc ban hành Hiến Chương 77 chống lại nhà cầm quyền Cộng Sản Tiệp Khắc, tại Sài Gòn, trong vòng đai lửa của chế độ mới, hai Luật Sư Trần Danh San và Triệu Bá Thiệp không thể im lặng. Cả hai đồng hoàn thành văn bản "Tuyên Ngôn Nhân Quyền Của Những Người Việt Nam Khốn Cùng". Hai anh và nhóm trí thức bất khuất gồm hơn mười luật sư, giáo sư, kỹ sư trước 1975 hành nghề tại Huế và Sài Gòn đã hẹn nhau chia làm hai ngã tiến theo hai đường tập trung trước Nhà Thờ Ðức Bà vào chiều ngày 23 Tháng 4, 1977. Trần Danh San dùng cái loa phóng thanh qua một máy ghi âm nhỏ đọc lên bản ‘Tuyên Ngôn Nhân Quyền của Những Người Việt Nam Khốn Cùng’ đến cùng đồng bào Sài Gòn, cũng của miền Nam lẫn miền Bắc đang mong chờ lần phục sinh từ bãi lầy cộng sản. Anh cố đọc lần thứ hai, nhưng mới được một nửa thì công an ập tới. Hai Luật Sư San và Thiệp không bị bắt riêng rẽ, hai anh có những người bạn chiến đấu cùng chịu chung cảnh ngộ gồm các Luật Sư, Giáo Sư Vũ Đăng Dung, Nguyễn Hữu Giao, Nguyễn Quý Anh, Vũ Hùng Cương, Trần Nhật Tân, Phạm Biểu Tâm, Huỳnh Thành Vị, Nguyễn Hữu Doãn, Hà Quốc Trung và Kiến Trúc Sư Nguyễn Văn Điệp. Nhóm trí thức bị giam giữ nhiều năm tại các nhà giam khắc nghiệt nhất của miền Nam. Trại Phan Đăng Lưu,Sài gòn;Trại Z30A,Xuân Lộc; Trại A20, Xuân Phước, Phú Khánh. Trong tù, Kiến Trúc Sư Nguyễn Văn Điệp, Giáo Sư Hà Quốc Trung đồng tự sát; Luật Sư Niên Trưởng Vũ Đăng Dung, nhạc phụ của Trần Danh San lúc ấy đã qua tuổi 60.

Cần phải nhắc lại những chi tiết. Chưa tới ba-mươi tuổi, Trần Danh San đã là một trong những luật sư trẻ đã tham gia chương trình thử nghiệm đầu tiên thành lập chính quyền dân sự tại tỉnh Quảng Nam do ông Nguyễn Hữu Chi vừa học ở Mỹ về được cử nhiệm làm tỉnh trưởng năm 1966. Nhưng cuối cùng chương trình này cũng không thành công vì sức ép của chính quyền quân sự vào thời điểm ấy. Anh trở lại nghề luật nhưng mang theo một kiến thức, kinh nghiệm sâu xa về nền chính trị rối ren tại VNCH, sự hiểu biết tường tận về những nguyên nhân gây nên tranh chấp trong hàng ngũ chính quyền VNCH và quân đội. Cuộc di tản, rút khỏi miền Trung, sụp vỡ Sài Gòn tháng 3, tháng 4 năm 1975 với những chi tiết và diễn biến cho tới những ngày cuối đời, trên giường bệnh, cận tử sinh vẫn là một ám ảnh gây nên mối phẫn hận.

Mối phẫn hận tăng thêm cường độ và tính cách mới sau 1975 khiến anh và những người bạn chiến đấu không thể im lặng trước tình cảnh khốn cùng của cả dân tộc. Trần Danh San lên tiếng nói và trả giá cho quyết định của mình với ý thức không lay chuyển. Trong trại giam Phan Đăng Lưu anh nhận đòn tứ trụ với sức chịu đựng tưởng chừng như không thực: Với thân hình cao không quá “một thước-sáu” nhận đòn đánh hội đồng từ bốn tên lực lưỡng chuyên nghiệp tra khảo người. Sau những trận đòn chạm tới điểm chết, sau những tháng kiên giam nơi hầm tối của anh, viên cán bộ trưởng trại Phan Đăng Lưu có câu hỏi: Anh có ngừng chống đối không? Trần Danh San trả lời chắc chắn: Chống đối là điều tất nhiên! Câu trả lời được nhiều bạn tù nơi Phan Đăng Lưu năm ấy hiện nay đang cư trú tại vùng Nam Cali nghe rõ.

Chuyển trại từ Phan Đăng Lưu ra Z30A,Xuân Lộc rồi sau đó A20, Xuân Phước, Người Tù-Kẻ Sĩ Trần Danh San vào ngay “Chuồng Cọp Số 5” tức khu biệt giam phân trại E của A-20. Tại đây, Trần Danh San, Vũ Ánh, Thượng Tọa Thiện Minh, Võ Sư Lê Sáng... đã bị cùm liên tiếp trong nhiều năm. Không phải bị cùm thường mà “cùm Omega” bằng sắt với số vòng cùm nhỏ nhất phải dùng búa mới đóng vào được cổ chân người tù. Vũ Ánh đã nghe thấy tiếng búa của cai ngục đóng vòng cùm số 16 vào chân Trần Danh San đáng lẽ phải mang vòng cùm số 18. Trần Danh San đã không một tiếng kêu. Anh cũng không hề yêu cầu đổi vòng cùm.

Ở A-20, San thường nói với Vũ Ánh, chung một đội tù sau khi ra khỏi hầm kiên giam: “Đừng bao giờ để cho cái đầu bị tê liệt vì cái bụng và cứ coi mình là một xác chết chưa chôn thì không còn sợ hãi gì cả”. Anh giữ vững nguyên tắc nầy cho đến ngày hôm nay trên giường bệnh lúc chạm biên giới tử/sinh. Nguyên tắc bức thoát khỏi những ràng buộc của vật chất, thân xác. Anh thường hoạt kê hóa câu hát ”... Khoan khoan hò ơi... Thuyền... đã đến bến rồi...” để chỉ một sự đã rồi của tất cả các tình huống.

Vâng, thưa Anh, Luật Sư Trần Danh San, Anh đã đến bến từ một thuở rất lâu. Anh đến trước mọi người trong những lúc khắc nghiệt nhất. Anh đến và đi như một thản nhiên.

Phan Nhật Nam
xin các bạn vào google (gõ LS Trần Văn San) để đọc thêm về anh



A 20 Trần Mạnh Tôn
NT. A 20 Nhan Hữu Hậu và A 20 Vũ Lonh Sơn Hải












A 20 Phùng Văn Triển










A 20 Vũ Văn Ánh