Thứ Năm, ngày 14 tháng 5 năm 2015

Tưởng nhớ ông Nguyễn Văn Học


Tưởng nhớ ông Nguyễn Văn Học



Ước ao được làm con của Ba mãi mãi. 

Con chào đời được 5 tháng thì Ba phải đi tù cải tạo. Tuổi thơ con sống trong sự đùm bọc của Mẹ và các Anh Chị.  Trong kí ức nhỏ bé của con, và hoàn cảnh đất nước lúc đó, Anh Chị em con đã có những bữa ăn không được no, nhưng gia đình mình luôn tràn ắp tiếng cười đùa.  Sự vắng mặt của Ba, con hoàn toàn không để ý đến.  

Khi Ba được ra tù cải tạo, thì con đã lên 7, cuộc sống của con như một cuốn vở vừa được mở sang một trang mới sạch đẹp hơn.  Con nói thế là vì con còn nhớ rõ con rất sợ ma, vậy mà sáng nào Mẹ cũng bắt đi Lễ Misa lúc 4 giờ sáng.  Đầu ngõ nhà mình lại có những cây tre thật to, con nghĩ cây càng to, càng rậm thì càng nhiều ma quái.  Mỗi sáng đi đến đầu ngõ, con phải nín thở, nhắm mắt chạy thật nhanh qua để không bị ma bắt.  Nhưng từ khi có Ba, mỗi sáng sớm con ung dung ngồi trên vai Ba để được cõng đến cổng nhà thờ.  Lúc đó con là con út nên được Ba nuông chiều lắm. Con thi thường xuyên bị bịnh và mỗi khi con đau bụng Ba thường lấy lá trầu xanh hơ lửa và chườm lên bụng con cho ấm lại.  Những cử chỉ chăm sóc của Ba, con còn nhớ mãi.  Ba là một người Cha hiền từ mà con rất yêu kính, Ba dành rất nhiều thời giờ cho con.  Những buổi chiều rảnh rỗi Ba dắt con ra ruộng rong chơi, đi bộ trên bờ đê, Ba cho con tha hồ chạy nhảy và Ba còn giúp con bắt những con dế đem về chơi.  Ba lại là người rất tỉ mỉ khéo tay, Ba làm cái gì cũng đẹp.  Lúc con 11-12 tuổi, Mẹ  cho con đi học thêu, con nhỏ nhất trong lớp nên mọi dụng cụ đều to lớn cho con.  Ba đã đóng cho con một con ngựa gỗ vừa tầm với con để con ngồi thêu, Ba đánh bóng thật láng để dằm khỏi đâm vào tay con.  





Cứ như vậy, hết năm này qua năm khác Ba luôn cho các con những gì tốt đẹp nhất, hình như con không bao giờ nghe Ba lớn tiếng la mắng chúng con, mà chỉ dùng những lời lẽ ôn hòa dạy bảo, nhưng rất thấm sâu trong lòng con.  Con nghĩ chắc tại con nghịch ngợm giống  Ba  nên được Ba thiên vị nhất, nhưng không phải vậy!  Bí quyết của Ba là sự hiền lành nhân từ, mà không chỉ riêng Anh Chị Em con mà tất cả mọi người có dịp tiếp xúc với Ba đều cảm nhận được điều đó. Nếu  con kể những kỉ niệm của Ba và con thì không biết bao giờ mới hết.

Nhờ sự hy sinh  7 năm lao tù cải tạo, mà Ba đã đưa được cả gia đình mình định cư tại Hoa Kỳ. Qua đến Mỹ Ba lại là tài xế đưa con đi học mỗi ngày suốt 4 năm trời, thế là Bố con mình lại có biết bao là kỷ niệm. Ba luôn khuyên dạy con ăn học nên người, Ba lúc nào cũng tin tưởng và hỗ trợ tinh thần các con của Ba.



  
Thế rồi tụi con lớn lên, ra trường, lập gia đình và rời xa Ba Mẹ.  Mỗi khi đưa các con về thăm Ngoại, Ba hay nói: “Có chuyện này hay lắm Ba chờ Cún tới kể cho Cún nghe mới thích”.  Nói chuyện với Ba lúc nào cũng rất thoải mái. Ba là người thông minh nói năng duyên dáng tế nhị, nhưng  rất dí dỏm và hòa đồng, ai ở gần bên  Ba cũng đều thương Ba của con cả.  

Ba là một người Cha nhân từ luôn quan tâm đến nhu cầu của từng đứa con, Ba đang sống trong an vui thoải mái, thì sức khoẻ của Ba yếu dần, và cái ngày định mệnh ấy đến.   Ngày 6 tháng 3, 2015 Ba phải đi cấp cứu, sau 2 ngày kết quả chính thức cho biết Ba bi ung thư phổi giai đoạn cuối và bác sĩ nói Ba chỉ có thể sống thêm 3-6 tháng.  Nghe tin Ba vậy, đất trời như sụp xuống trước mặt con.  Nhưng đó mới là sự bắt đầu.  Chúng con không ai cầm được nước mắt khi thấy Ba email cho bạn bè  của Ba với chủ đề: Tin Sét Đánh, trong nội dung Ba viết “những cơn đau của ung thư phổi thật khủng khiếp, người trần gian không thể diễn tả nổi ….” Viết xong Ba đứng dậy lê từng bước nặng nề vào phòng. Ba ơi! Nếu như Ba nói những  cơn đau đó trên trần gian này không diễn tả nổi, thì đối với con không bút mực nào có thể viết được  lòng yêu thương con dành cho Ba.  Chỉ vài ngày sau đó, Ba bị té trong phòng tắm, con nghe tiếng thét  hoảng sợ của Mẹ và Chị, con gục xuống tưởng rằng con đã mất Ba rồi.  Mắt con cay nhòa và chân con như mọc đầy gai, không thể nào lê nổi thân xác của mình nữa.




Ba phải nhập viện trở lại, nhìn Ba đau đớn co rút người lại, nhưng không một lời than trách. Khi tỉnh dậy Ba nói, nhìn thấy các con khóc Ba còn đau đớn hơn nên Ba đã âm thầm chịu đựng. Thế mà  những cơn đau quái ác đâu có tha cho Ba, Ba run rẩy co quắt lại các Anh Chị Em con nói với nhau. Ba có 6 đứa con và đại gia đình mình có tất cả 30 người, ước gì tụi con có thể chia bớt sự đau đớn cho Ba. Ba là một người hiền lành có vóc dáng nhỏ nhắn, nhưng  Ba lại có một ý chí kiên cường và một đức tin thật mạnh mẽ. Mỗi sáng thức dậy, Ba ra Đài Đức Me mà chính tay Ba đã xây cho chúng con, Ba chắp hai tay tạ ơn Thiên Chúa đã cho Ba một đêm bình an.  Để chống chọi lại với những  cơn đau, Ba tập thể dục mỗi ngày, Ba đi bộ chậm chạp, nhìn Ba đi con thương Ba vô cùng. Chắc Ba biết con là người nắm rõ bịnh lý của Ba, nên lâu lâu Ba lại ghé tai con hỏi nhỏ bịnh Ba ra sao?  Nó có lên trên đầu Ba không mà Ba nhức đầu quá Cún? Con phải cố bình tĩnh mà quay đi chỗ khác gạt nước mắt. 

Con nhớ lần cuối chúng con đưa Ba vào bịnh viện, Ba phải chụp hình phổi, lúc đó Ba đã không còn đứng được, họ phải cho Ba nằm. Ba đau quằn quại, họ không cho con ở đấy.  Ba kéo lấy tay con và nhoài người  ôm con thật chặt như cầu cứu điều gì. Con không thể diễn tả được, nhưng sẽ  không  bao giờ quên ánh mắt ấy của Ba. Ba đau đớnquá không nói được gì vì phải  dùng hết sức chống lại với cơn đau, trong khi nước mắt Ba chảy thành dòng. Thấy vậy họ cho con ở lại bên Ba, và cả hai Bố con cùng khóc.  Ai ngờ đâu, đó chính là lần cuối cùng  con được Ba ôm thật chặt trước khi Ba đi sâu vào hôn mê.  

Căn bịnh ngặt nghèo đã cướp đi mạng sống của Ba chỉ vọn vẹn trong vòng 6 tuần. Mọi người vẫn còn bàng  hoàng, ngay cả khi con đang viết những dòng tưởng nhớ về Ba, con vẫn không nghĩ  Ba đã không còn bên con nữa. Ba nấc nhẹ lên 2 tiếng rồi nhẹ nhàng nhắm mắt ra đi bình an, nhưng sao  trong lòng con lại xót xa đến thế? Mọi người an ủi chúng con rằng, vì đời sống tốt lành, đức tin mạnh mẽ và sự chịu đựng đau đớn thật  kiên cường của Ba, Chúa đã gọi Ba về sớm để Ba được hưởng  hạnh phúc bên Ngài trên Thiên Đàng. 





Chúng con biết Ba thương Mẹ nhiều lắm vì Ba Mẹ đã có với nhau 50 năm chung sống. Sự ra đi của Ba sẽ để lại cho Mẹ nỗi hụt hẫng mất mát thật to lớn. Chúng con xin hứa với Ba là mãi mãi theo lời Ba dạy, Anh Chị Em chúng con sẽ luôn yêu thương nhau, kính trên nhường dưới, và sẽ tiếp tục chăm sóc Mẹ như những ngày Ba còn bên chúng con vậy.  Tất cả chúng con không hề hối hận điều gì vì chúng con hết lòng yêu thương Ba, chúng con chỉ mong phải chi Ba có thể sống lâu hơn với chúng con. Nếu như có được điều ước hay sự chọn lựa, tất cả Anh Chị Em chúng con đều ước ao được làm con của Ba và là anh chị em với nhau mãi mãi.  

Hôm nay chúng con xa Ba, nhưng trong lòng tất cả chúng con luôn luôn thương nhớ đến người Cha khả kính của chúng con, gia đình mình sẽ được đoàn tụ lại trên nước Trời Ba nhé!  Chúng con xin tiễn biệt Ba và thương chúc Ba  luôn mãi bình an trên Thiên Quốc.

Kính chào tạm biệt người Cha thân yêu của chúng con,

Cún của Ba

PS: Anh Học !
Muốn viết về anh vài hàng nhưng con gái của anh giỏi quá, cháu viết hết về anh rồi, cháu chẳng chừa cho tôi chút nào để mà viết.




Thứ Bảy, ngày 25 tháng 4 năm 2015

“Vinh quang một đời của người cầm quân là một món nợ. Nợ với tổ quốc, với đồng bào, và với thuộc cấp của mình!”..

               “Vinh quang một đời của người cầm quân là  một món nợ.
Nợ với tổ quốc, với đồng bào, và với thuộc cấp của mình!”..

(Vương Mộng Long)

Bảy giờ sáng ngày Ba Mươi tháng Tư 1975, tôi dừng quân trên một tọa độ cách thủ đô Sài-Gòn hơn hai chục cây số. Nơi đây là đoạn cuối của Quốc Lộ 1. Chỉ còn một quãng đường ngắn ngủi nữa thôi, Quốc Lộ 1 sẽ chấm dứt.
Tối qua, 29 tháng Tư chúng tôi rút về tới Long-Bình thì Bộ Chỉ Huy Liên Đoàn 24 Biệt Động Quân đã di chuyển đi đâu mất rồi. Tiểu Đoàn 82 Biệt Động Quân của tôi như con gà con lạc đàn. Tôi vào máy gọi Liên Đoàn 24 BĐQ, gọi Tiểu Đoàn 81 BĐQ, gọi Tiểu Đoàn 63 BĐQ, và gọi cả Sư Đoàn 18 BB/ HQ trên tần số riêng. Tần số nào cũng rối loạn. Tôi không bắt liên lạc được với ai. Nửa đêm, thình lình máy vô tuyến đưa lệnh, chẳng hiểu của giới chức nào, chỉ vắn tắt một câu “Các đơn vị cấp tốc rút về phòng thủ Sài-Gòn!”
Mờ sáng Ba Mươi tháng Tư, chúng tôi bỏ Long-Bình, rồi từng bước, rút về hướng thủ đô, để “phòng thủ thủ đô”. Cuối cùng, lết bộ tới Cầu Hang (Biên-Hòa) thì mỏi mệt quá, tôi cho quân dừng lại nghỉ. Trên Quốc Lộ 1, cách Cầu Hang chừng hai trăm mét, hơn sáu chục người lính sống sót cuối cùng của Tiểu Đoàn 82 Biệt Động Quân bơ vơ.
Vào giờ này, quân số Tiểu Đoàn 82 BĐQ bách thắng của Quân Khu 2 còn lại chừng nửa đại đội, với bốn sĩ quan là tôi (Thiếu Tá Vương Mộng Long), Thiếu Úy Thủy, Trung Úy Trâm, Chuẩn Úy Thiều cùng hơn sáu mươi binh sĩ. Ông Đại Úy Ngũ Văn Hoàn, Tiểu Đoàn Phó chết đêm 28 tháng Tư. Chuẩn Úy Nguyễn Hữu Phước và Trung Úy Đăng mất tích. Thiếu Úy Châu đi thụ huấn chưa về. Thiếu Úy Học, Thiếu Úy Hoàng vắng mặt từ chiều 27 tháng Tư, trước khi tiểu đoàn vào vùng. Chuẩn Úy Gấm, Chuẩn Úy Trung, Chuẩn Úy Lê Văn Phước (Ban 3) cùng Trung Úy Trần Văn Phước thất lạc trên đường rút lui từ Hố-Nai về Long-Bình ngày hôm qua.

Những trận đánh cuối cùng và Chân dung người lính Việt Nam Cộng Hòa

Những trn đánh cuối cùng và Chân dung người lính Vit Nam Cng Hòa

Sơn Tùng




Quân đi VNCH chính thc buông súng và tan rã vào trưa ngày 30/4/75, sau nht lnh đu hàng ca Chun tướng Nguyn Hu Hnh, mt tên nm vùng được Tng thng 3 ngày Dương Văn Minh b nhim làm quyn Tng Tham Mưu Trưởng. Đó là mt ngày đen ti mà cho đến hôm nay, sau đúng 40 năm, hu như vn còn in rõ trong tâm nim ca hàng triu người lính cũ ca quân đi min Nam cùng vi nhng cm nghĩ cay đng, đau xót. Nhng cm nghĩ y có l cũng được c nhng người chết mang theo.
Bốn mươi năm sau khi tan hàng rã ngũ bng mt cuc bc t kinh tm, chân dung tht ca người lính VNCH vn còn b che m sau nhng màn khói huyn thoi, phn bi và vô ơn. Có l trong lch s thế gii, không có người lính nước nào phi chu mt s phn nghit ngã như người lính VNCH. Trong khi cm súng chiến đu và sau khi đã buông súng hng chc năm, người lính y vn chưa thoát khi cái s phn nghit ngã bám theo mình.

Trong Lửa Đỏ, Giữa Sự Chết, Trên Quê Hương!


Trong Lửa Đỏ,
Giữa Sự Chết,
Trên Quê Hương!

Phan Nhật Nam

Một

Cách đây 50 năm, tại Nghĩa Trang Quân Đội Gò Vấp, Gia Định những buổi chiều mưa dầm Tháng 6 miền Nam, anh xoay xở quay quắt giữa những thây chết của những người lính thuộc đơn vị đầu đời, Tiểu Đoàn 7 Nhẩy Dù, Tiểu Đoàn 52 Biệt Động, Tiểu Đoàn 2/7 Sư Đoàn 5 Bộ Binh.. Những người chết của chiến trận Đồng Xoài, Bình Dương nổ ra từ những ngày đầu Tháng 6. Đối với một gã lính vừa qua tuổi 20 năm ấy, sự mất mát của hàng trăm chiến hữu chỉ được đưa về sau nhiều ngày kể từ khi tử trận quả là một sự đau thương quá lớn.. Thân thể người chết căng cứng, xanh đen, tím thẩm, dòi bọ lúc nhúc bò theo những vết thương sũng máu. Khoảng đất nghĩa trang đặc sánh bởi máu, thịt, con người chảy vữa, sênh sếch.. Trong  đó có máu, thịt của bạn anh, Thiếu Úy Trần Trí Dũng, gã học sinh đã cho bạn cùng lớp và toàn Trường Phan Châu Trinh Đà Nẵng niềm hãnh diện.. Vô địch bóng bàn học sinh, thủ quân đội bóng rỗ, cũng là trung phong hàng đầu của hội tuyển bóng tròn trường trung học đá hay nhất miền Trung. Nhưng giờ đây, tất cả dạng hình tươi trẻ sống động của Dũng với lúm đồng tiền trên má không còn nữa.. Kéo fermeture bao đựng xác – Bạn anh, người bạn ấu thơ của Đà Nẵng hơn mươi năm trước bấy giờ chỉ là một thây xác sùi sụp nước nhờn tím thẩm hôi hám. Có chăng được phần an ùi. xác Dũng còn nguyên dạng hình chưa bị vữa nát. Buổi đá banh năm xưa ở Sân Vận Động Chi Lăng làm sao tưởng ra tình cảnh nầy Dũng ơi?!

Xóm nhà dân trước nghĩa trang phải di tản vì mùi hôi thối bốc kín đặc khoảng không. Tiếng kêu khóc của thân nhân tử sĩ âm âm oán thán, xót xa, xé cắt.. Có bà cụ vật vã thều thào bên chiếc poncho gói xác người vừa lật mặt.. Nam ơi! Nam ơi! Sao cháu bỏ bà.. Anh ngồi xuống bên cạnh bà cụ.. Bà ơi, con cũng tên Nam, cha mẹ con không còn, con gọi bà bằng bà thay anh Nam. Trở về hậu cứ đơn vị nơi phi trường Biên Hòa, sân cờ tiểu đoàn trắng màu khăn tang, con trẻ chạy thất thanh quanh những người mẹ đang nằm lăn trước bậc thang các văn phòng đại đội.. Thiếu úy ơi! Thiếu úy ơi! Hóa ra anh là sĩ quan còn sót lại của một tiểu đoàn nhảy dù mà từ tiểu đoàn trưởng, tiểu đoàn phó, 4 đại đội trưởng đồng tử nạn.. Không biết Đại Úy Phát, đại đội trưởng Đại Đội 74 và đám quân binh thất lạc nay đang ở đâu. Thế nên, những tưởng Tháng 6 năm 1965 đã quá sức chịu đựng của con người - Cho dẫu là người lính có khẩu hiệu Nhẩy Dù Cố Gắng!

Thứ Năm, ngày 02 tháng 4 năm 2015

THIỆP MỜI THAM DỰ HỘI NGỘ A.20 Kỳ 3.

                        *********************************            
THIỆP MỜI THAM DỰ HỘI NGỘ A.20 Kỳ 3.
 
Trân trọng Thông Báo cùng Toàn Thể A.20_Trại Trừng Giới Xuân Phước:
 
Sau Ngày Hội Ngộ lần Thứ Hai được Tổ Chức tại Bắc Cali, Đa số A.20 khắp nơi đã bày tỏ long mong muốn có Ngày Hội Ngộ A.20 kế tiếp,dù chỉ một lần
Không biết còn lần khác nữa không nên Anh Em đã Tín Nhiệm và Ủy Thác cho Miền Bắc Cali sẽ Tổ Chức Ngày Hội Ngộ lần Thứ Ba.
  Ban Tổ Chức A.20 Bắc Cali Thân mời các A.20 trên toàn Thế giới cùng về tham dự Hội Ngộ A.20 Kỳ III sẽ được Tổ chức
tại San Jose vào 2 ngày : 

*1- Tiền Hội Ngộ ,Thời gian và Địa điểm :
          - Thời gian :Fri 08/14/15 từ 4:00PM đến 9:00PM
          - Địa điểm : Tư gia A.20 PHẠM KIM MINH
                                       1142 HOPKINS Dr
                                     SAN JOSE,CA 95122

*2. Ngày Hội Ngộ A.20 Kỳ 3 ,Thời gian và Địa Điểm :
 
Ngày THỨ BẢY  15 Tháng 08 Năm 2015
Từ 5 Giờ Chiều đến 11 Giờ Tối
Tại Nhà Hàng FLOURISHING GARDEN Restaurant
1650 MONTEREY Hwy, San Jose , CA 95112
Điện Thoại:             408-288-8868
  
 *3-Lệ phí : Xin vui lòng đóng góp $45.00 cho mọi chi phí
 được dùng cho 2 Tiệc Hội Ngộ và gửi chi phiếu về :


                                      TRUNG BUI
                          1065 BLAZINGWOOD Dr
                            DUNNYVALE,CA 94089
Điện thoại liên lạc :             408-747-7346
Email : “trungbui25@yahoo.com
  Trên Chi Phiếu xin ghi rõ: 
                    HỘI NGỘ A.20 và YỂM TRỢ (nếu có).

*4. Trong Tinh Thần Truyền Thống Đoàn Kết và Bất Khuất của Trại Trừng Giới A.20. Ban Tổ chức thiết tha mong muốn được đón nhận sự Tham Gia Hưởng Ứng Nồng Nhiệt, Tích Cực Đóng Góp, Ủng Hộ và Giúp Đỡ để cuộc Hội Ngộ A.20 Kỳ 3 được thành công tốt đẹp.
  Mọi Liên Lạc khi cần đến :
     - NG. NGỌC TIÊN    : 408-242-4056
     - BÙI ĐẠT TRUNG    : 408-747-7346
     - PHẠM KIM MINH   : 408-341-5105
     - TRƯƠNG VĂN TÁM: 408-921-3141

Xin Chân Thành Cám Ơn và Thân Chúc Toàn Thể Quý A.20 và Gia Đình Được Bình An, Nhiều Sức Khoẻ để Chúng Ta sẽ còn cơ hội Tiếp Tục Gặp Nhau trong những Kỳ HỘI NGỘ kế tiếp.
 
                                          Trân Trọng kính chào,
                                      A.20  NGUYỄN NGỌC TIÊN
                                          Trưởng Ban Tổ Chức
 



Thứ Sáu, ngày 27 tháng 3 năm 2015

“Đại Học Máu” - Xuân Phước

“Đi Hc Máu” - Xuân Phước
                               (Trích từ : - http://phamhoangtung.blogspot.com)
                                          - hcsvvdhdalat.com/index.php?
                                                                --------
VỊ TRÍ ĐỊA LÝ

          Tuy Hòa cách Nha Trang 120 km, và từ Sài Gòn đến Tuy Hòa độ 561 km,còn từ Hà Nội vào Tuy Hòa khoảng 1.156 km.


Bn đ ch khong cách t Sài Gòn đến Phú Yên.
nh ngun: map google. 

Bn đ tnh Phú Yên, Tri Tù A.20
hay Tri Xuân Phước thuc huyn Đng Xuân.
nh ngun: map Vit Nam google.

                                            LCH S TRI TÙ

              Dưới đây chúng tôi xin phép trích dẫn một số dữ kiện của những bạn tù thuộc thế hệ trước chúng tôi để bạn đọc có cái nhìn tổng quát về vị trí, lịch sử trại tù A.20.
            1.- Trại A-20 Xuân Phước được hình thành tháng 10 năm 1976 do đoàn tù Việt Nam Thương Tín xây cất.
            2.- Có 5 phân trại: A, B, C, D, E và trại Hốc Kè là trại kỷ luật của công an, và là nơi tập trung các tù sắp được thả để bóc lột sức lao động lần chót.
            3.- Ngày 5/9/1979, 30 tù từ trại Z-30A Xuân Lộc chuyển đến phân trại E.
            4.- Năm ngày sau, thêm 78 tù từ Z-30D Hàm tân.
            5.- Vài ngày sau, thêm 118 tù từ trại Z-30C Hàm Tân.
            6.- Tháng 10 và tháng 11, thêm đợt tù từ trại Suối Máu.
            7.- Tổng số tù: trên 10.000, trong đó phân trại E có 700.
            8.- 13/11/1980: 7 tù nhân cựu Sĩ Quan cướp súng, vượt trại, khoảng tuần lễ sau đó, 6 người bị bắn chết, một bị bắt sống, chịu án chung thân (Đại Uý Lê Thái Chân, Pháo Binh Dù).
           9.- 1982, đợt thả tù quy mô, đa số là tù nhân từ Suối Máu. Nhưng lại thêm tù nhân chuyển từ trại Nam Hà về.
          10.- Giữa năm 1984: đa số tù từ Nam Hà được thả.
          11.- Cuối 1984, khoảng 100 tù nhân được chuyển về Z-30A Xuân Lộc.
          12.- Tháng 1-1985, thả một đợt trước Tết, trong đó có tác giả hồi ký này.

Trại Tù A-20, Xuân Phước
*
Dữ kiện được trích từ:
Cựu tù A.20 Đỗ Văn Phúc
***
Trại A-20 được thế giới biết đến nhiều như một trại giam man rợ nhất. Ngay cả trong danh sách những tù nhân mà các chính phủ, hội đoàn đã và đang tranh đấu với Cộng Sản Việt Nam để được trả tự do, trại A-20 vẫn chiếm hàng ưu tiên một. Trại A-20 từng giam giữ những chiến sĩ Ðoàn Viết Hoạt, Phạm Trần Anh, các vị thượng tọa, đại đức, linh mục tranh đấu cho nhân quyền như Thích Thiện Minh, Nguyễn Văn Vàng, Nguyễn Quang Minh.  
Ðây là một trại tù trừng giới ở miền Nam nơi giam giữ lâu dài những anh em quân cán chính Việt Nam Cộng Hòa được chúng liệt vào thành phần bất trị, các bạn chiến sĩ đấu tranh cho tự do dân chủ sau ngày 30-4, và đám tù hình sự mang án chung thân hoặc tử hình.
Ðã đến đây thì chẳng ai nghĩ đến ngày về nữa. Ngay cả trong giấc ngủ, cũng chẳng mơ được chuyện thoát ra khỏi trại. Muốn biết thêm về trại A-20, quý vị có thể tìm đọc trong “Hồi Ký 26 Năm Lưu Đày” của Thương Tọa Thích Thiện Minh, Chủ Tịch Hội Ái Hữu Tù Nhân Chính Trị và Tôn Giáo Việt Nam; “Trại Kiên Giam” của Nguyễn Chí Thiệp; “Đoạn Trường Bất Khuất” của Phạm Trần Anh; và nhiều bài của Vũ Ánh đăng trên nhật báo Người Việt hay nguyệt báo KBC Hải Ngoại.