Chủ Nhật, ngày 11 tháng 1 năm 2015

Những Cánh Thép Ngày Trước...


Nhng Cánh Thép Ngày Trước... - Vũ Xuân Thông


Như một lời tri ân chân thành đến tất cả các chiến sĩ Không Quân của KLVNCH đã ngày đêm tích cực yểm trợ Liên Đoàn 81 BCND chiến đấu để bảo vệ quê hương gấm vóc và hai chữ "Tự Do" ...



Cho tôi xin dù chỉ một lần
Mơ làm cánh én giữa trời Xuân
Tang bồng hồ thỉ mang chí lớn
Rạng giống Tiên Rồng lính Không Quân

Firebird24



Những Cánh Thép Ngày Trước...

Công ty tôi đang làm nằm trên con đường Mirama Road, sát nách một phi trường lớn của Thuỷ Quân Lục Chiến Mỹ, nên bắt buộc mỗi ngày tôi phải đi và về trên con đường này. Và ngày nào cũng vậy, lộ trình của tôi đều đi qua khu bảo tàng Không Quân chứa đầy các loại phi cơ, từ thời có lỗ sĩ, từ thời tôi chưa được sinh ra trên cõi đời, cho đến những chiếc phi cơ của thời Đệ Nhị Thế Chiến và thời chiến tranh Việt Nam.

Cái khu bảo tàng này lại nằm sát đường chỉ cách một cái hàng rào bằng lưới chống B-40 (chain link fence). Mỗi lần đi qua khu vực này, tôi đều lái xe chậm lại và không khỏi liếc nhìn vào đó dù tôi đã quá quen thuộc với những loại phi cơ đang nằm phơi trên bãi đậu.

Từ những chiếc Avia B 534, Bell P-39 Airacobra từ những năm 1934...đến những chiếc Gruman Hellcat hay Bearcat, những chiếc F-5, Skyraider cho đến những chiếc trực thăng trái chuối CH-46 đầu tiên, H-34 nặng nề, chiếc UH1, Cobra ...và cả chiếc L-19 Bird Dog mong manh rất quen thuộc với tôi. Ngoài ra mỗi ngày tôi còn phải nghe tiếng gầm rú của các loại phi cơ chiến đấu cất cánh và hạ cánh mỗi giờ, những ngày không khí ẩm thấp, tiếng cánh quạt của nhiều loại trực thăng nặng nề vang dội trên đầu đã thực sự gây cho tôi nhiều ấn tượng nhất.

Vì đó là những tiếng động đã quá quen thuộc với tôi hầu như đã tiềm ẩn trong trí nhớ tôi và không thể xóa nó đi được dù 37 năm đã trôi qua kể từ khi tôi giã từ cái nghiệp lính.

Năm nay tôi đã bước vào tuổi 75, vẫn phải đi làm, ngoài việc tiếp tục kiếm sống qua ngày trên mảnh đất tạm dung nầy, còn để ngăn ngừa sự thoái hóa của bộ óc càng ngày càng già nua ...để rồi hủy hoại hết những điều cần phải nhớ. Tuổi già thì thường hay nói nhiều, nhớ nhiều về dĩ vãng. Thật ra con cháu tôi, chúng cũng thông cảm vì giờ đây tương lai của tôi, chỉ là đang bước dần tôi trạm cuối cùng, là cái nghĩa trang lạnh lùng nào đó.

Tôi là một người lính sống sót sau 15 năm khói lửa, 13 năm tù đày trong các trại tù khổ sai của cộng sản việt nam từ Bắc chí Nam, từ trại kỷ luật đến xà lim Chí Hòa. Thử hỏi cuộc đời của tôi còn lại gì ?

Cái gia tài của người lính như tôi còn lại há không phải là quá khứ của 15 năm trong quân đội hay sao? 15 năm trong một đời người như chúng ta, những người lính đã sống qua cuộc chiến ác liệt, đầy máu và nước mắt, vinh có nhục có và đôi khi buồn nhiều hơn vui, dù muốn quên cũng khó quên.

Ngay từ những năm đầu ở Trung Học, tôi đã rất ngưỡng mộ Không Quân dù chỉ qua hình ảnh của các anh phi công Mỹ, Pháp và Anh trong thời kỳ Thế Chiến thứ hai và trong thời gian chiến tranh Việt Nam vào những năm 50. Sau này khi bước chân vào bậc Trung Học Đệ Nhất Cấp tôi đã có ý định sau khi tốt nghiệp Trung Học tôi sẽ xin gia nhập vào Không Quân Việt Nam. Những mộng không thành vì khi khám sức khỏe ở Bệnh Viện Cộng Hòa tôi mới phát giác ra là thị lực của con mắt phải của tôi chỉ có 7/10. Thế là vỡ mộng, nhìn bạn bè rộn ràng lên đường gia nhập Quân Chủng Không Quân mà thấy tủi thân. Cuối cùng đành phải chấp nhận cái thân phận chui bờ chui bụi của cái lính đánh trộm là Liên Đoàn 81 Biệt Cách Nhảy Dù. May cũng nhờ quen thuộc lối đánh trộm (đôi khi chúng tôi cũng ăn trộm được nhiều kho vũ khí và lương thực của địch) nên cũng có chút tiếng tăm và chiến công góp phần với các quân binh chủng bạn, đã làm cho kẻ địch suy yếu. Nhưng nếu nói đến cái đơn vị bé tí teo và những chiến tích mà chúng tôi đã lập được cũng nhờ những đôi cánh thép, như một thứ bùa hộ mạng, như cái ô dù che chở trên đầu chúng tôi. Những đôi cánh thép đã mang chúng tôi đi hầu hết các chiến trường (ngoại trừ vùng IV chiến thuật vì lính BCD 81 không biết bơi).

Đã bao lần không quản ngại trước lưới lửa phòng không của địch tua tủa như pháo bông để mang chúng tôi và xác đồng đội ra khỏi vùng vây địch. Qua hàng trăm cuộc hành quân, những đôi cánh thép đã mặc nhiên như gắn ngay sau lưng chúng tôi, đã chắp cho chúng tôi đôi cánh thép. Đơn vị của chúng tôi đã gắn liền với Quân Chủng Không Quân của các bạn.

Xin cho chúng tôi được hân hạnh nhận các chiến hữu Không Quân là bạn để dễ bể tâm sự và để nói hết những điều cần nói sau 37 năm dài. Vì không nói ra lúc này sẽ không có dịp nào để nói, giữa chúng ta từ lâu đã cư xử với nhau rất mực huynh đệ chi binh, nhưng cũng đầy hào khí giang hồ. Tôi sẽ không nhắc lại những chiến công oanh liệt của các bạn hay của chúng tôi. Tôi chỉ muốn nhắc lại những người đi vào chiến tranh với dáng vẻ hào hoa phong nhã, lúc nào quân phục cũng sạch bóng, trang bị nhẹ nhàng không giống như đám chúng tôi bao giờ cũng vậy hễ xuất quân là quần áo rằn ri, lôi thôi lếch thếch...nào là ba lô, súng ngắn, súng dài, giây nhợ quanh người, lựu đạn lủng lẳng đằng truớc, đằng sau. Mỗi lần được bốc ra khỏi vùng hành quân thì ôi thôi khỏi nói, dù có yêu tôi cách mấy cũng chỉ đúng xa mà chào mừng chứ chưa ai dám ôm hôn tôi thắm thiết. Mười lăm ngày hay một tháng luồn lách qua bờ bụi, lên xuống đồi núi dưới cái nắng nóng ẩm, mồ hôi rơi xuống mờ cả mắt lau không kịp. Bộ đồ trận lúc nào cũng đẫm ướt mồ hôi nhiều khi chẩy theo hai bắp chân xuống đôi giày đi rừng.

Đêm nằm trên chiếc poncho gấp đôi, mồ hôi vẫn còn đọng ướt cả lưng. Cứ như thế ngày này sang ngày khác, bộ đồ trận ướt rồi khô, bao nhiêu mùi hôi đều thấm sâu vào vải áo quần. May mắn lắm mới qua được một con suối còn lại chút nước, vội vàng múc cho đầy 2 bị đông nước, xong cùng nhảy xuống hụp cho ngập đầu rồi lại tiếp tục đi.

Ấy là những ngày không chạm địch, còn có thời gian ngồi xuống để thay một đôi vớ đã bốc mùi khó chịu. Những lần chạm địch thì coi như được phép quên đi những khó chịu hàng ngày, quên đi mình đã chưa ăn gì suốt một ngày qua, đã chưa uống một ngụm nước. Tàn cuộc thằng hay thua, lúc ấy mới biết mình còn đủ mồm miệng để ăn vội bọc cơm xấy. Còn các bạn tôi thật khỏe, ngồi trong buồng lái tha hồ tung hoành ngang dọc, hết phi vụ quay về phi trường, đi thẳng vào Câu Lạc. Bộ làm một ly cà phê đá, khỏe re trong lúc chờ cho các chuyên viên "check" tàu, tái trang bị bom đạn, "rocket" để chờ phi vụ tiếp theo.

Chưa nói đến vài ngày chúng tôi được xả hơi sau mỗi cuộc hành quân, cởi được bộ đồ hôi hám, thay vào một bộ quân phục mới để cùng xuống phố phường uống vài chai "33"cho đã bù lại những ngày phải uống nước sông nước suối. Nhưng nếu có xuống phố hay buổi tối tạt vào một tiệm nhảy nào lại đụng mấy bạn, và bao giờ chúng tôi cũng lép vế, lép về về đủ mọi phương diện. Đôi khi có một tí tình còm để an ủi những hễ chấm được cô nào vừa ý là y như rằng đã có một ông Không Quân nào sắp sửa rước đi rồi !!!

Nói cho vui vậy thôi chớ vội cho rằng chúng tôi đả kích các bạn nhé, thua thì thua rồi. Xưa còn trẻ đã không thắng các bạn, nay đầu đã bạc, chân mỏi gối mòn, hơi sức đâu mà ganh với đua . Trước khi nhắc lại những kỷ niệm đã qua, xin cho tôi nhắc lại một câu chuyện sau.

Vào tháng 1 năm 1975 khi Biệt Đoàn chúng tôi được lệnh tăng viện cho Tiểu Khu Phước Long, lúc này đang bị trên một sư đoàn địch vây hãm, các đơn vị địa phương hầu như đã tan hàng. Nói là Biệt Đoàn nhưng thật ra chỉ có 2 Biệt Đội 811, 814 và Bộ Chỉ Huy, tổng cộng khoảng 320 nguời. Không Đoàn 43 Chiến Thuật thuộc Sư Đoàn 3 Không Quân là đơn vị yểm trợ và đổ quân, dưới cơn mưa pháo 105 ly, 155 ly, hỏa tiễn 122 ly và súng cối, các phi đoàn trực thăng đã hoàn thành nhiệm vụ một cách phi thường với tổn thất không đáng kể.

Đích thân Chỉ Huy Trưởng của tôi, cựu Đ/Tá Phan Văn Huấn và Đ/Tá Triệu đã trực tiếp chỉ huy cuộc đổ quân. Nhìn từ trên trực thăng xuống thị xã Phước Long tôi nghĩ khó mà đáp được vì cả thị xã ngập trong khói lửa của đủ loại pháo chưa kể hỏa lực phòng không của địch tua tủa bắn lên đây trời với đủ loại từ đại liên 50,súng cá nhân, 23 ly và 37 ly. Tiếng đạn pháo nổ dưới đất cộng tiếng các loại phòng không nổ ngang trời nhắm vào các phi tuấn A-37 va F-5 đang cố thả những trái bom và bắn rocket yểm trợ cho cuộc đổ quân vang rền cả một vùng trời.

Tôi chỉ còn trông cậy vào tài bay bổng của các bạn đưa tôi an toàn xuống đất, chỉ cần chúng tôi đặt được chân xuống đất, dù chưa biết sau đó sẽ ra sao. Và thật như một phép lạ, cả hai lần đổ quân đều trót lọt, tất cả đều nhờ tài khôn ngoan của phi hành đoàn. Thay vì đáp ngay xuống thị xã, các phi hành đoàn của Không Đoàn 43 Chiến Thuật đã đáp xuống cạnh các khe suối cạnh thị xã, là những nơi khuất tầm quan sát của các tiền sát viên địch. Địch đã bố trí quanh khu vực Phước Long một trung đoàn phòng không với đủ mọi loại súng từ 12 ly 8 đến 23 ly và 37 ly. Tiền sát viên của địch ở khắp nơi, nhất là đỉnh núi Bà Rá đã bị địch chiếm mấy ngày trước. Biệt Đoàn I Chiến Thuật của tôi chỉ gồm có Bộ Chỉ Huy và 2 Biệt Đội (Biệt Đoàn -), không quá 300 người. Lực lượng trú phòng của Tiểu Khu Phước Long và các đơn vị tăng phái không còn bao nhiêu.

Tiểu Đoàn 7 thuộc Trung Đoàn 9 của Sư Đoàn 5 chỉ còn không quá 100, Đại Đội 5 Trinh Sát, Sư Đoàn 5 chỉ còn hơn 10 người đã dạt vào đơn vị tôi, Đại Đội Trinh Sát Sư Đoàn 18 Bộ Binh còn Đại Đội Trưởng và hơn một trung đội. Hai Tiểu Đoàn Địa Phuơng Quân đã tan hàng, quân nhân còn lại cũng lẫn lộn trong hàng rào phòng thủ của Biệt Đội 811 của tôi. Cộng chung lại không quá 500 tay súng để chọi lại với lực lượng địch trên 10 ngàn với đủ bộ xe pháo mã tốt. F-5 và A-37 vẫn yểm trợ tích cực nhưng với một hệ thống phòng không chằng chịt không thể xuống thấp để có thể đánh bom chính xác hơn. Từ dưới đất tôi thấy chỉ một chút sơ hở là những chiếc F-5 và A-37 kia sẽ vỡ tung, có một vài trái bom đã rơi vào vị trí bạn ...phải chấp nhận thôi .Dù sao sự hiện diện của những chiếc phi cơ này cũng khiến dịch không dám điều động thiết giáp tiến sát đến vị trí chúng tôi. Dân và lính bỏ đơn vị tràn ngập vị trí chúng tôi khiến không thể nào kiểm soát được, tuy vậy chúng tôi vẫn đẩy lui được nhiều đợt xung phong của địch và đã hạ được 4 chiến xa địch.

Vào lúc choạng vạng tối ngày 5 tháng 1 năm 1975, chiến xa địch và bộ binh tiến sát vị trí Bộ Chỉ Huy của tôi, sau đợt pháo 130 ly, 155 ly, 122 lý và 105 ly, chúng thả một toán đặc công vào 2 lô cốt trống , nhờ phát giác kip thời nên đã bị tiêu diệt ngay sau đó.

Suốt trong thời gian từ ngày 4 tháng 1 năm 1975 đến ngày 6 tháng 1 năm 1975, không lúc nào địch ngưng pháo vào vị trí chúng tôi, chúng mở nhiều đợt tấn công có chiến xa yểm trợ mong tiến sát vào vị trí chúng tôi. Sáng ngày 5 tháng 1 năm 1975, tôi đơn phương quyết định không cho C-130 thả dù tiếp tế nữa vì 1/2 khu vực thị xã đã rơi vào tay địch trước đó 2 ngày. Hầu như 9/10 những kiện hàng tiếp tế đều rơi vào tay địch, các phi vụ oanh kịch không hiệu quả, không còn pháo binh yểm trợ, không tiếp viện. Ở tại Quân Đoàn III, Trung Tướng Dư Quốc Đống từ chối lệnh thả phần còn lại của Liên Đoàn 81 BCND. Trong tình thế này, tôi buộc phải cho lệnh đơn vị rút khỏi Phước Long để bảo toàn đơn vị, tôi đã phải để lại hơn 60 xác đồng đội tại đây. Một điều đau đớn chưa bao giờ xảy ra trong lịch sử của đơn vị tôi. Tôi đã phải phân tán đơn vị tôi thành từng toán nhỏ, lợi dụng đêm tối, vượt qua hàng rào bao vây của địch để thoát ra ngoài. Phước Long thất thủ vào sáng ngày 6 tháng 1 năm 1975.

Trong lúc đơn vị tôi còn đang tìm cách vượt qua vòng vây của địch thì ngày 7 tháng 1 năm 1975 đã có một buổi họp cao cấp của Quân Đội, giống như tòa án quân sự, họ cố gán ghép việc thất thủ Phước Long là do lỗi của Không Đoàn 43 Chiến Thuật thuộc Sư Đoàn III Không Quân Biên Hòa. Thật là vô cùng phi lý nếu không nói là ngược ngạo. Trong khi các phi cơ của các Phi Đoàn Trực Thăng 221, 223, 231 237 ... phi cơ L-19 còn đang bay tìm kiếm và bốc các toán đã vượt qua được vòng vây địch thì tại hậu phương họ đang bị kết tội.

Trách nhiệm làm mất Phước Long nếu nói thuộc về tôi, người đã tự quyết định rút khỏi Phước Long, cao hơn là vì chỉ huy trực tiếp của tôi đã không buộc tôi phải hy sinh cả đơn vị để cố thủ một vị trí mà gần như đã hoàn toàn chiếm giữ bởi quân địch. Chúng tôi còn sống sót không trách cứ bất cứ cấp chỉ huy nào. Người lính chỉ biết tuân hành mệnh lệnh nhưng rõ ràng trách nhiệm làm mất Phước Long thuộc về người đã ra lệnh thả một đơn vị 300 người vào chỗ cầm chắc 90% để thua về một mục đích chính trị. Một ván bài tháu cáy, và đã thua, là khởi sự cho sự sụp đổ sau này.

Tôi đã ghi ở phần trước là giữa Không Quân và các anh em 81 BCND, ngoài tình huynh để chi binh, chúng tôi còn có một cái nghĩa "giang hồ". Trong buổi họp, Đ/Tá Huấn, Chỉ Huy Trưởng 81 BCND đã dũng cảm tuyên bố trước mặt các tướng lãnh:

"Mất Phước Long, lý do tại sao quý vị đều biết nhưng không ai nói ra. Phần Liên Đoàn 81 chúng tôi vào chỗ chết đã đành bởi nghề nghiệp chúng tôi là chọn chỗ chết để đi vào. Riêng các anh em Không Quân, các phi hành đoàn trực thăng đã làm quá bổn phận của họ, đã chết lây với chúng tôi, thật tội nghiệp. Nay đưa họ ra tòa, tôi cho là vô lý, nếu có lỗi làm mất Phước Long, tôi nhận lỗi. Xin quý vị tiếp tục họp và cho tôi biết kết quả, tôi xin phép ra về vì còn nhiều việc phải làm"

Mãi 2 ngày sau, tôi và Bộ Chỉ Huy mới thoát ra khỏi được vòng vây địch. Ban đêm di chuyển qua các bãi trống, tôi phát giác được nhiều chốt của địch đang bám giữ các bãi đáp này. Sáng cuối cùng chúng tôi tới được một nương sắn (khoai mì), đã thấy nhiều trực thăng đang bốc các toán lẻ cách thị xã khoảng 5 đến 10 cây số. Tôi không còn máy để liên lạc với họ vì chiếc mày truyền tin PRC-25 cuối cùng đã bị Hiệu Thính Viên của tôi đánh rớt xuống nước khi vượt qua sông vào buổi tối. Phương tiện liên lạc duy nhất là một mảnh kiếng nhỏ bằng 2 đầu ngón tay, tôi cũng không hy vọng được bốc ra. Ở tại Bộ Chỉ Huy Liên Đoàn, mọi người đều nghĩ tôi đã tử trận hoặc bị bắt . Còn đang kiểm điểm xem còn lại bao nhiêu người trong BCH của tôi, bất chợt tôi nghe lùng bùng ở tai. Tôi biết đang có trực thăng bay rất thấp vì tiếng quạt gió làm rung chuyển lớp không khí còn ướt hơi sương, chỉ trong một khoảnh khắc ngắn chiếc chiếc trực thăng UH1 đã ở ngay phía trước. Anh em vội bẻ gẫy một số cây khoai mì, trong lúc đang ra dấu cho trực thẳng vào vị trí, tôi chợt nghe nhiều loạt súng cá nhân từ các đồi bên cạnh bắn qua, có lẫn cả tiếng nổ của đạn súng cối bắn vào vị trí quanh bãi đáp. Vì số cây khoai mì còn nhiều nên trực thăng chỉ lơ lửng trên đầu ngọn cây khoai mì, anh em tự nhảy lên bám vào càng leo lên rồi kéo người khác lên. Đạn bắn càng lúc càng gần, đốn gẫy các cây mì chung quanh.

Vì đạn địch bắn quá gần nên phi hành đoàn buộc phải cất cánh vội vàng. Tôi và Đ/Úy Thành, sĩ quan liên lạc Không Quân (ALO) phải nhảy lên mới bám được vào càng bên trái của chiếc trực thăng.

Khi anh em kéo tôi lên được trên sàn tàu, tôi phải xoay người lại nhờ anh em bám chặt hai chân, cúi xuống nắm lấy hai cổ tay của của Đ/Úy Thành và la lớn để anh thả hai tay ra thì tôi mới kéo anh lên được. Những Anh Thành vẫn không chịu buông tay ra và la lên "Cho tàu đáp xuống" ...khi chiếc trực thăng đã bốc lên cao khoảng 200 bộ , bỗng nhiên anh bỏ tay ra không báo trước nên tôi đã để vuột anh. Nhìn anh rơi xuống như một chiếc lá rụng, chiếc áo jacket da bò xòe ra như một cánh bướm mất hút với tiếng là thảm thiết của anh, tôi như người mất hồn...Cả phi hành đoàn đều cúi xuống nhìn anh rơi mà không màng đến hàng trăm viên đạn phòng không đang túa theo chiếc trực thăng đang nặng nề rời bãi .

Chiếc trực thăng duy nhất của Không Đoàn 43 đó Tr/Uy Sơn (Sơn Rỗ) lái đã phải cất cánh với 32 nguời kể cả phi hành đoàn, nó đã bị quá tải (overtorque), chỉ bay mà không đáp được nữa vì nếu đáp sẽ không còn có thể cất cánh được nữa.

Trong đời binh nghiệp của tôi từ khi còn là một toán trưởng thám sát cho đến khi trở thành một cấp chỉ huy cao hơn, chưa bao giờ tôi phải ân hận như thế, đã để rớt Đ/Úy Thành. Hình ảnh của anh còn mãi trong tôi như một cơn ác mộng luôn đè nặng lên tôi trong nhiều năm.

Có rất nhiều phi hành đoàn trực thăng đã chết lây theo chúng tôi. Vì là một đơn vị lấy phương tiện không vận và không yểm là con chủ bài, hầu hết các cuộc hành quân của Liên Đoàn 81 BCND đến nằm trong vùng địch và sau lưng địch, không nằm trong tầm pháo binh, có khi còn phải chuyển tiếp qua căn cứ tạm để tiếp nhiên liệu vì thời gian bay của trực thăng không đủ bảo đảm số thời gian bao vùng. Nếu nói một cách tàn nhẫn hơn thì dù 81 BCND chỉ là một đơn vị nhỏ nhưng đã làm thiệt hại rất nhiều phi cơ của cả hai phía Hoa Kỳ và Việt Nam. Tôi đã sống hết đời quân ngũ trong chỉ một đơn vị duy nhất, 12 năm khởi đầu bằng nghề Toán Trưởng, leo lên đến được BCH/ Biệt Đoàn, tôi đã chứng kiến được nhiều điều đau xót. Quên sao được khi lần đầu tiên bước chân lên chiếc H-34 nặng nề như một con voi của Phi Đoàn 215 Thần Tượng, nhớ những Anh Vui, Vinh, Khôi, Mành, Trắng, Hiếu ...Những con người hào hoa đã đưa chúng tôi vào những mặt trận "thắt cổ họng còn sướng hơn" như Bình Giả, Pleime, Đức Cơ, Đồng Xoài ...và đã đón chúng tôi trở về trong niềm vui gặp lại vợ con, bằng hữu. Quên sao những bạn bè như Trọng, Vỹ, Bảo, Dõng, Duyên và hàng trăm phi công trẻ của Không Đoàn 43 Chiến Thuật, những cánh bay mong manh L-19 thủng hàng chục lỗ đạn. Quên sao được những buổi hàng đoàn trực thăng đáp xuống sân căn cứ hành quân ở Suối Máu, Biên Hòa, phi hành đoàn ngồi chờ phi vụ với một khúc bánh mì, gói xôi đậu xanh mua vội ở Biên Hòa. Những con người đã từng đối đầu với gian nguy cùng với chúng tôi qua bao nhiều mặt trận mà cuộc sống vật chất không đủ để nuôi vợ con, nhưng vẫn cười vang mỗi lần gặp gỡ.

Chúng tôi đã không có đủ khả năng để đãi các bạn một bữa cơm trưa thanh đạm mà phải để các bạn bay về căn cứ, nuốt vội bữa cơm ở Câu Lạc Bộ, để rồi lại phải tiếp tục suốt buổi chiều, có khi trở về khi trời đã tối. Thế mà các bạn vẫn cười, không có một lời phiền hà. Chúng ta đã đã cùng chiến đấu để không vì miếng cơm manh áo của chính mình mà vì để bảo vệ miền Nam tự do, tránh được cái họa cộng sản.

Mỗi lần đi tham dự ngày họp mặt của các Quân Binh Chủng bạn, nhìn lại các chiến hữu xưa, nay đầu đã bạc trắng bỗng bùi ngùi nhớ lại thân phận mình. Nhớ tới tôi đã chưa một lần gửi lời cảm ơn các bạn, vì lòng nhiệt thành của các bạn, biết bao nhiêu lần chỉ vì để cứu một người lính 81 BCND trong vòng vây địch, để rồi lại phải hy sinh cả phi hành đoàn, chúng tôi đã phải chấp nhận những tổn thất về nhân mạng. Chúng ta khác kẻ thù, chúng ta quý nhân mạng hơn, dù chỉ là một người lính bình thường. Biết bao lần tôi chứng kiến những chiếc trực thăng bị nổ tung khi vừa vào bãi đáp, không một người sống sót. Sự tiếp cứu sau đó chỉ để mang về những xác người đã cháy đen!!! Còn gì buồn hơn khi thấy người phi công thoát ra khỏi chiếc A-37 bị bắn cháy, chiếc dù cứ trôi theo gió rồi rơi vào đất địch. Hãy cảm nhận nỗi đau khổ của anh em chúng tôi, những người tiếp cứu một phi công L-19 của Không Quân Việt Nam bị bắn cháy chỉ mang về một thi thể trần truồng. Địch đã xỉ nhục hay căm thù đến nỗi lột hết quần áo của một người đã chết thân thế không còn nguyên vẹn. Cái bản chất cầm thú của kẻ địch đã đối xử với một người đã chết còn như thế, thử hỏi đối với những chiến hữu của chúng ta rơi vào tay địch còn phải chịu đựng những khổ nhục như thế nào? Bao nhiêu chiến sĩ Không Quân đã hy sinh, bao nhiêu người đã rơi vào tay địch?

Hoàng hôn ngày 27 tháng 4 năm 1975, giữa khung trời còn âm u khói từ kho bom phi trường Biên Hòa bị nổ trước đó vài ngày, tôi đứng bên nầy hàng rào nhìn hàng chục chiếc trực thăng cất cánh rời bỏ phi trường. Thế là hết, ẩn ý như một lời vĩnh biệt...đó là lần cuối cùng tôi nhìn thấy những cánh chim ấy, những cánh chim đã cùng chúng tôi trải qua bao gian nguy.

Bây giờ những cánh bay ấy có thể đã nằm mục rã ở một vài bãi phế thải nào đó, hoặc năm sâu dưới đáy biển sau lần bay cuối cùng, hay may mắn hơn được nằm trong các viện bảo tàng chiến tranh. Nhưng những con người điều khiển chúng vẫn còn nhiều, lòng yêu nước và tinh thần dấn thân vẫn còn và mơ ước một ngày nào đó được bay trên vùng trời Tổ Quốc Việt Nam Tự Do .

Cuộc chiến tranh này chưa bao giờ chấm dứt, nó chỉ được thay đổi hình thức mà thôi ...




"Old soldiers never die; they just fade away."
General Douglas MacArthur



Vũ Xuân Thông
Liên Đoàn 81 BCND


Chủ Nhật, ngày 14 tháng 12 năm 2014

VUI BUỒN TRẠI TỴ NẠN


          
VUI BUỒN TRẠI TỴ NẠN

Sau lần bị bắt thứ hai với tội danh “Có hành vi chống lại XHCN”,chúng đem
xe Falcon lại chở mình tôi (cứ như Bộ trưởng…) vào trại Phan Đăng Lưu ở
Gia định cùng một đêm với NT Ng. Ngọc Tiên K.23 (Tư Rè),sau 7 Tháng
Không khai thác được gì chúng kêu ra đọc lệnh thả với nội dung như sau:
“Xét hành vi không đáng bị bắt giữ,cho về”, đọc xong chỉ muốn “mếu” mà thôi,
ở yên cũng không xong,thế là trong vòng một tháng tôi đã chuẩn bị
“Tìm đường cứu nước”, đi đường bộ qua Campuchia rồi qua Thái Lan,
đường đi này cũng nhiều Hỉ Nộ Ái Ố lắm,người ta bị Hải tặc còn mình
thì bị Đạo tặc,nhưng chuyện hơi dài, để lúc khác vậy….
Kẹt ở Miên 2 tháng đến tháng 9 thì qua đến Thái lan và vào trại Phanatnikom,
một trong 3 trại tỵ nạn của Thái,2 trại kia là Sikiu thuộc biên giới Thái Miên,
còn trại cuối là SongKhla gần biên giới Thái Mã, sinh hoạt ban đầu ở trại tỵ nạn
hình thức cũng giống như một trại giam vì còn phải sưu tra về lý lịch,chỉ sau khi
gặp phái đoàn các quốc gia nhận cho đi định cư thì lúc đó mới chính thức
trở thành tỵ nạn,thành ra tổ chức trại cũng giống như một trại tù : Trưởng trại,
An ninh  và hệ thống trật tự gồm những người thanh niên qua đây nhưng
không có diện đoàn tụ nên bị phái đòan từ chối còn gọi là bị “đá”,phải sống

                                


lây lất một thời gian dài học và nói được tiếng Thái để sinh tồn,rồi bị dụ
vào làm trật tự để lấy credit hy vọng được cứu xét,làm lâu thành “tinh”
quên mất thân phận mình và sinh ra lắm tệ đoan,lợi dụng vai trò trật tự
 hống hách,hù dọa các đồng hương tỵ nạn mà kiếm chác, ở tù cs quen rồi
nên không khí ở đây đối với tôi vẫn là Thiên đường,một hôm đang đi qua
một khu vực thấy một nhóc trật tự đang la lối mắng mỏ bà con tòan  những
người lớn tuổi, đáng tuổi cha mẹ,thấy bất nhẫn quá tôi lại nổi máu điên :
“Này thằng kia,ra đây tao bảo”,nghe gọi cu cậu khựng lại và ngạc nhiên
Như là chưa bao giờ gặp ai lại dám có thái độ như vậy,hắn hất hàm “Gì đó?”
“Mày qua đây bao lâu rồi?”,trừng trừng nhìn tôi hắn trả lời cộc lốc “3 năm”
“Mày qua đây 3 năm,thế mày có biết tao là ai không?” hơi ngây người,
nghĩ một hồi :”Không !!!!”,tôi quắc mắt và gằn giọng : “Ở đây 3 năm mà
mày không biết? bây giờ tao hỏi lại lần nữa,mày có biết tao là ai không?”
Nhìn nét mặt ‘ngầu pín” của mình hắn bắt đầu hơi nhờn nhợn:”dạ,dạ không”
Lúc đó tôi mới vỗ vai hắn:”Làm sao mày biết tao là ai được….Tao còn
Không biết tao là ai (?) thì làm sao mày biết”………Sau đó tôi đã dẫn cu cậu
đi uống café và khuyên nhủ,giải thích nên đối xử tử tế với bà con,nhờ vậy
sinh hoạt cũng thoải mái hơn.
Trại được điều hành bởi Cao ủy Liên Hiệp Quốc (UNHCR) mà các nhân viên
Đa số là người Thái,những người có trình độ học thức hay tay nghề đều
muốn làm việc thiện nguyện,một phần để giúp đỡ đồng bào, đồng thời
có credit để có cơ hội được cứu xét đi định cư dễ dàng và nhanh hơn.
Tình cờ tôi được anh bạn giới thiệu cho một Job mà người phụ trách
sắp chuyển qua Bataan (Phi),anh tên Thạch và Job này mang cái tên
rất là đặc biệt “ MAP MAKER “,hiểu theo nghĩa đen là “Người làm Bản đồ”
nhưng đó chỉ là một danh từ ngụy trang,thực chất của nó chính là :
“ỦY BAN BÀI TRỪ HẢI TẶC” mà Tổng hành dinh nằm ở Bangkok,cứ mỗi tháng
có một người Mỹ tên HENRY vào gặp tôi, ông đưa cho tôi mấy tấm HẢI ĐỒ
và nhiều xấp tài liệu của tháng trước,mỗi xấp là một chuyến Thuyền nhân
đã bị Hải tặc,trong đó ghi lại những cuộc thẩm vấn các nạn nhân,như rời VN
lúc nào, đi hướng nào,gặp trục trặc gì,khi nào thì gặp hải tặc …….. từ những
Chi tiết đó công việc của tôi  là dùng sự suy luận để vẽ lộ trình và xác định
tọa độ nơi gặp hải tặc,tháng sau ông ta vào tôi giao kết quả và nhận hồ sơ mới,
kết quả đem về Bangkok,qua những tọa độ mình chấm,họ sẽ khoanh vùng
và xem Hải cảng nào ở gần đó nhất ,sẽ là nơi xuất phát của Hải tặc,rồi tổ chức
một chiến dịch tảo thanh mang theo những nạn nhân giả làm dân Thái,trà trộn
trong đó để nhận dạng mấy tên hải tặc đã từng hiếp và cướp,chiến dịch này
đã tạo ra được rất nhiều kết quả khả quan.

                 


Mỗi lần đi làm việc,nhân viên Cao ủy gặp, cứ gọi tôi là Mr Map Maker,một hôm
Ông Phó Cao ủy mời tôi lên nói chuyện,vừa ngồi xuống ông nói “Mr Map Maker,
Tôi nhờ anh một chuyện được không?”,”Vâng ông cứ nói”, “Thời gian tới
Ông Bộ trưởng Tư pháp ở Bangkok sẽ xuống đây thanh tra,tôi muốn nhờ anh
làm một bản Thống kê trong năm 1986 có bao nhiêu thuyền nhân VN qua đây,
xuất phát từ đâu đến đâu,mỗi lộ trình bao nhiêu người…..? Hai tuần cần làm
cho xong” nghe tới đây trong lòng cảm thấy tan nát rồi,từ khi lọt lòng mẹ
có  bao giờ đụng tới nó đâu,bây giờ phải lôi một “núi” hồ sơ ra ngồi đếm
thì từ chết tới bị thương mà thôi,nhưng vì tự ái của thằng “Điên” tôi vẫn phải
nói cứng ; “I’ll try my best”,ra về tôi thẫn thờ nằm vắt trán tìm cách hoàn thành
cái việc trời đánh thánh đâm này,sau 2 ngày “suy tư” nhớ về quá khứ từ khi
đi học rồi đi lính tôi sực nhớ đến sư phụ dạy Sử Địa và cũng là bác của mình
là Giáo sư Trần Hữu Quảng đã chỉ cho tôi cách vẽ bản đồ,tại sao phãi làm
                                       

                                


một bản thống kê bằng ngoại ngữ lòng thòng trong khi vốn Anh văn chưa đủ
để sỉa răng….Thế là tôi lấy tờ giấy đánh máy,kẻ ô bằng số ô trên tấm Hải đồ,
rồi copy lại bản đồ Đông Nam Á,từ khổ 1 thước bây giờ thu nhỏ lại thành
trang giấy học trò,vừa vẽ xong thì viên Sỹ quan trưởng ban An ninh trại
đi ngang qua nhìn thấy tấm bản đồ,lại gần cầm lên xem,hắn trừng mắt nhìn
tôi :”Làm sao anh làm được cái này?” Tôi nhún vai :”Vì tôi là Sỹ quan”
nghe vậy hắn tự động bỏ đi.Sau đó bắt đầu lục các hồ sơ thuyền nhân 1986
phân ra từng nơi xuất phát (Rạch Giá,Phú Quốc,Vũng Tàu.v..v…) rồi qua đến
Songkla hay Phanatnikom……tính ra số liệu tổng quát,số liệu từng lộ trình,
 tỷ lệ phần trăm,rồi chỉ việc kẻ những đường lộ trình,lấy bút màu
Highlight và ghi những số liệu cùng tỷ lệ bên mỗi lộ trình rồi “Giao hàng”.
Sau khi Bộ trưởng về lại Bangkok , ông Phó CU mời tôi đi ăn và tỏ ý cám ơn
những gì đã giúp ông, ăn xong đang ngồi nhâm nhi thì ông phán cho một câu :
“Can you do me a favor one more thing?” nghe tới đây là tôi sắp muốn sỉu rồi
“Vâng, ông cứ nói”, “Khi nào qua Mỹ,anh có thể gửi về cho tôi một mớ
sách PLAYBOY được không?” Nghe tới đây tôi nhẹ cả người :”Chuyện nhỏ”
Làn sóng người đến rồi đi vẫn tiếp tục,một hôm đang làm, ra nghỉ xả hơi,
những người mới tới đang chờ ở ngoài đợi kêu tên vào làm giấy tờ,
thấy một người đang ngồi ủ rũ “suy tư”,nhìn là biết ai rổi,tôi lẳng lặng

đến gần giả giọng Cán bộ TKS :”Anh tên gì?”,người đó giật mình ngửng lên
“tôi tên Loan”, “Gì Loan?”,” Ơ,Trần Văn Loan”,”Phải Loan K.23 không?”
người ấy trố mắt nhìn kỹ lại :”Mày hả Trung?”,bèn dẫn ông anh vào làm thủ
tục cho lẹ.Cũng một lần ở Bataan, đang làm ở JVA,lù lù một ông Tù Trưởng
đi vào,hóa ra Hung thần TĐT/TKS Đợt 1 Trần Vĩnh Thuấn K.23:” Ủa NT tới
hồi nào vậy?”,”Mới hôm qua,tôi ở Vùng 2”,”Hèn gì tôi còn một cái ở đây ai dè
của NT”,làm thủ tục lý lịch có bà xã đứng cạnh,tôi hỏi :”Anh chị có mấy cháu?”,
“6 đứa” vừa nghe xong tôi ngửng lên,trợn mắt,cau có :”trời... đẻ gì đẻ dzữ dzậy?”
làm 2 ông bà nhìn nhau bẻn lẻn cười.
Phải công nhận thời gian tỵ nạn là thời gian vàng son,
chưa phải lo sinh kế,chỉ lo học và chuẩn bị để thích nghi với cuộc sống mới sau này,và cũng ở đây không khí sinh hoạt trong tình VB,Chiến hữu thật là hài hòa và ấm cúng, với các NT và NĐ như K.19 (Ng, Nho. , Ng. Phùng Trọng),
K.20(Trần Kim Bảng,Ng.V.Huân,Lê.V.Phương,Ngọc),K.23(T.V.Loan,T.V.Thuấn),K.27(N.V.Xuyên,N.V.Gương),
K.28 (N.M.Thu,Trương Thành Minh),K.29 (Trịnh Xuân Ngọc),K.31 (Ng. Xuân Quý)
Cùng khóa thì có Hà Quốc Hùng,tên này chỉ vì cái tội vô tình ở cùng trại
nên sau này qua Mỹ tôi đã lôi đầu ra bắt làm phù rể,





















ngoài ra còn NT Diên K.10 và thầy Bội thuộc khoa Anh văn.
Thời gian trôi mau,lần lượt người đi,người đợi, đối với những Cựu QN
có diện đi Mỹ,khi lên làm việc với phái đoàn Mỹ phải qua 3 Cơ quan :
JVA,EAO và INS; JVA chỉ phụ trách về thủ tục giấy tờ,lý lịch rồi chuyển qua EAO
là cơ quan quan trọng nhất phụ trách về Nhân chủng học,kiểm chứng xem
mình là thứ thiệt hay “dzổm”, đi hay bị “đá” là do nơi đây,có những trường hợp
tưởng chắc ăn,cuối cùng lại thua,như trường hợp một vị Th/Tá có đầy đủ giấy
tờ,ngoài ra bên mình lúc nào cũng kè kè một folder gồm giấy tờ về huy chương,
giấy ban khen của Tướng lãnh,bằng tốt nghiệp..v..v..  ai thấy cũng phát thèm,
hôm lên gặp phái đoàn gồm một nhân viên Hoa Kỳ và một Nữ QN Việt nam
rất giỏi và có uy tín,người ta vẫn gọi là Bà Thuận,khi được gọi tên,vị Th/T này
bước vào,không thèm chào một câu,vất cái folder lên bàn cái “bịch”,tự động
kéo ghế ngồi,bà Thuận ngồi im không nói, đợi ông ta ngồi xuống bà mới cất
tiếng :”Tôi đã biết tất cả về anh…..nhưng nếu mà ngày xưa một người thuộc
cấp vào trình diện mà không chào rồi tự động kéo ghế ngồi thì không biết
anh có cho họ ăn một cái đá từ dưới lên trên không? Tôi nghĩ rằng đó không
phải cung cách của một Sỹ quan nhất là cấp tá,mời anh ra ngoài đợi.”
Mọi người đang xếp hàng đợi đều “teo” hết,gặp bà chằng rồi….nhưng sau đó
Bà Thuận đã ra trấn an mọi người,ngày hôm đó mọi người đều được nhận,
kể cả những người bị đá lúc đầu cũng được nhận lại,chỉ trừ có mình vị Th/Tá
kia là rớt đài,kể cũng là bài học về nhân cách.
Giai đoạn cuối cùng là cơ quan di trú INS,qua khỏi EAO là đã được 8,9 chục
phần trăm rồi,nhưng cũng phải coi chừng ngựa về ngược,bàn làm việc gồm
một Mỹ và thông dịch viên,người Mỹ đều nói được tiếng Việt nhưng chỉ khi nào
cần họ mới nói,câu hỏi đầu tiên luôn luôn được đặt ra là :”Nguyên nhân nào
khiến ông/bà bỏ nước ra đi?” Có những trường hợp “ngoại lệ” xảy ra cũng vui,
như có một cựu QN khi vảo,với câu hỏi đầu tiên,muốn chứng tỏ cho người Mỹ
biết mình cũng nói được tiếng Anh :
”I’m very poor Sir,my life is… 3 DOWN,7 UP,9 UP and DOWN”
“Tôi khổ lắm ông ạ,cuộc đời của tôi nó…3 CHÌM,7 NỔI,9 cái LÊNH ĐÊNH”
vừa nói tay ông vừa chỉ xuống,chỉ lên và uốn lượn,thế mà Mỹ cũng hiểu
và cho ông pass.Còn lần tôi lên INS sau khi qua khỏi EAO (cũng nhờ còn giữ lại
căn cước Th/Úy lúc mới ra trường) và thấy chắc ăn rồi,khi cô thông dịch hỏi:
“Nguyên nhân nào khiến anh bỏ Nước ra đi?”
“Tôi đâu có bỏ Nước ra đi,tôi theo nước qua đây mà…”



                                        



Ông Mỹ trợn mắt,hỏi ngay tiếng Việt :”Nước nào?”….”Nước Biển….”
Ông phì cười,lấy ngay con mộc đóng vào tờ giấy :”Thôi đi đi cha nội…”
                                                   Bùi Đạt Trung (BĐT/BĐ/Người Nhái K.25)










-- 

Thứ Bảy, ngày 20 tháng 9 năm 2014

"CHỨC SẮC" trong TÙ

        "CHỨC SẮC" trong TÙ


Vào thời điềm 1984;lúc đó tôi đang ở trại B của A.20 Xuân Phước,
những đặc tính thường xảy ra với các trại là : chuyển trại,chuyển nhà
hay chuyển "Đội",mục đích để hóa giải những âm mưu nổi loạn
hay vượt ngục cùng những lý do khác....
Thời gian lạnh lùng trôi đi,"Lịch" cứ mỗi ngày mỗi chồng chất
không biết khi nào ngừng,lúc đó một đội Tù gồm 3 Tổ,điều hành đội
gồm Đội Trưởng,Đội Phó,Thư ký và 3 Tổ Trưởng.
Sau một lần chuyển đội,hệ thống điều hành,sinh hoạt cũng thay đổi theo,
Lúc đó ĐT là Lưu Kim Long,một cựu Đ/U Cảnh SáT,ĐP là Phạm Văn Thận
là Th/U,rất thân với tôi,cả 2 tuy còn độc thân nhưng đùa với nhau :
"Sau này tôi với Ông sẽ làm Sui Gia với nhau,O.K?" thế là mỗi lần găp nhau
cứ gọi nhau "Ông Sui,ông Sui..." òm cả tỏi làm mọi người phì cười 
"Sao tao mệt với 2 cái thằng SUI này quá..." Sau này qua Mỹ cà 2 đứa mới 
lập gia đình,khi bắt liên lạc với nhau,mỗi lần gọi phone tôi đều ân cần hỏi thăm:
"Này ông Sui,con DÂU tôi nó đã bỏ TÃ chưa ????"
Sau khi chuyển đội,nhân số không thay đổi bao nhiêu nhưng tổ 3 của tôi
lại thiếu Tổ trưởng,trong đó có NT của tôi là anh Năm Tấn K.14VB,Tr/Tá Pháo Binh,
Trịnh Đình Lâm giáo chức ,Hồ Hoàng Khánh Tr/sĩ Người nhái,con Võ sư Hồ Cẩm Ngạc,
Ng. Thanh Tùng một tù nhân Chính trị bị bắt vì tội chống phá vẹm,ăn cơm chung với Ngọc Đen.
  Lúc đó ông Sui tới gặp và cầu cứu nhờ tôi làm Tỗ trưỡng Tổ 3,vừa nghe xong
tôi dãy nảy liền "Ối giời! ông Sui tính làm tê liệt cuộc đời và sự nghiêp của tôi sao?
sau này nếu có lỡ dại ra tranh cử Tổng Thống chả lẽ tôi lại khoe : Năm 37 tuổi Cụ đã từng
làm Tổ trưởng Tổ 3 Đội 21 tại trại tù A.20 Xuân Phước.......Nghĩ tới viễn ảnh đó
là tôi hết Điên luôn"
 "Không phải,kêu mấy cha kia,ai cũng né hết,mà không né thì mình cũng không yên tâm,
mình cần người biết duy trì được hòa khí và tinh thần của mọi người với nhau."
Giằng co mãi cuối cùng cũng phải chiều lòng ông Sui (nếu không mất mẹ nó con Dâu...)
Thế là một trang sử thử thách mới bắt đầu lật qua,công việc điều hành thì không
có gì nặng nhọc,chỉ có đầu óc luôn phải chuẩn bị để đối phó với những gì sẻ xảy đến.

 Thử thách đầu tiên : Vào dịp chuẩn bị đón Tết,trại chỉ thị thực hiện một tờ Bích báo
với sự đóng góp bài vở của các "trại viên",thế là ban trật tự thi đua liền ra chỉ tiêu
cho các nhà,các đội làm sao nộp cho đủ 100 bài thơ,văn gì cũng được,
theo hệ thống quân giai phân phối từ trên xuống dưới thì mỗi tổ phải góp 2 bài,
một tin sét đánh ngang tai,mình đã thuộc loại VÕ chứ không phải VĂN,nhất là
viết bài "bốc thơm" thì lại càng không phải nghề của chàng,buổi tối ngồi sinh hoạt
hàng tuần với tổ,tôi bắt đầu năn nỉ mấy ông tổ viên,nhất là thầy giáo Trịnh Đình Lâm
đúng nghề của chàng,chỉ cần làm bài thơ con cóc,vô thưởng vô phạt nôp đủ chỉ tiêu
thế là xong,rốt cuộc điều phủ phàng đã xảy đến,tất cả đều "khẳng khái" từ chối.....
buồn quá hôm sau tôi khai bệnh xin nghỉ một ngày,tình hình lúc đó nghỉ ở trại
chúng không cho đi lang thang mà gom mấy tên khai bệnh vào một nhà,khóa lại
chờ các đội đi về mới mở cửa,hôm đó tôi mang theo mấy gói mì qua để "nấu nướng linh tinh"
và tán gẫu với nhau,lần này gặp ngay Thày Đạt,một tu sĩ Phật Giáo ở chung trại Hàm Tân
và ngủ cạnh nhau,Thày đặc biệt 2 bàn chân đều có 6 ngón,Thày cũng loại ba gai có hạng,
về khoản cãi cọ tay đôi với Vẹm thì khỏi chê,tôi còn nhớ Thày nằm ngay cửa sổ,
cứ 2,3 giờ sáng Thày thức dạy lẳng lặng ngồi giữa mùng và cửa sổ hướng ra ngoài,
ngồi theo kiểu thiền nhắm mắt và âm thầm tụng kinh,lúc đó một tên võ trang đi tuần
xung quanh,ngang qua đó thấy Thày đang ngồi,đứng đối diện nó hỏi : "Này anh kia,
anh đang làm gì đó ?",Thày vẫn nhắm mắt tiếp tục Tụng kinh không trả lời,
nó hỏi đến hơn chục lần vẩn im lặng Y chang,tức quá nó bèn xổ bựa :"Này thằng kia !
mày đang làm gì đó ???" Lúc đó thầy mới từ từ mở mắt ra :"Tại sao cán bộ gọi tôi là mày?"
"Ừ,tao gọi mày là mày,mày đang làm gì đó ???"
 "Nếu cán bộ gọi tôi là MÀY thì......TAO cũng gọi MÀY là MÀY !!!!!!!"
Thế là 21 ngày Biệt giam thoải mái.....
 Trở lại câu chuyện,gặp nhau Thày cười :"Hê Điên,hôm nay bị "Liệt" hả ?"
 "May quá hôm nay có Thày ở đây thật đỡ buồn,lát nữa mời Thày ăn sáng với tôi."
Thày nhận lời,sau khi ăn sáng xong ngồi tán gẫu,chợt nhớ đến vụ bích báo và Thày cũng
thuộc loại thơ văn cao cường,Tôi liền hỏi thày có biết vụ bích báo không,Thày nói biết chứ,
mừng quá tôi liền cầu cứu :"Thày có thể cứu tại hạ bằng 2 bài thơ con cóc,vô thưởng vô hại
được không? để nộp cho tụi nó cho xong nợ." Nghe xong Thày cười :"Chuyện nhỏ"
Tôi liền đi kiếm giấy bút đưa cho Thày,quả thật chỉ trong thoáng chốc,"ngoáy" một cái
đã xong 2 bài thơ,đọc thấy cũng hay mà chả liên quan gì đến bọn kia,
thế là hí hửng "Giao hàng",thường thì 100 đâu có đăng hết,nó đã trừ hao rồi
nên 100 chỉ lấy 50 thôi sau khi đã lọc lựa,thiên bất dung gian,sau khi lọc lựa xong
rốt cuộc 2 bài của mình lại được chọn đăng lên đúng là cười "té ghế"......

Một lần khác vì thời tiết mưa gió thất thường trại không cho ra ngoài lao động,
bắt tập trung trên hội trường ngồi chờ cho đến hết giờ mới cho giải tán,trực trại
là một tay sĩ quan cán bộ tên Tiến cấp bậc Tr/úy thuyên chuyển từ Nam Hà vào,
tay này thuộc loại Võ biền nên cung cách có phần "phổi bò" hơn mấy tên khác,
đỡ nham hiễm,một hôm muốn đổi không khi,hắn bắt tất cả ra tập họp và tập
Cơ bản thao diễn,muốn khoe cái tài chỉ huy,điều động của mình và chỉ cho
các đội trưởng,tổ trưởng cách hướng dẫn về CBTD.
Khi nghe hắn đứng ban lệnh tôi thật ngạc nhiên vì ngược hẳn với cách thức
của QL/VNCH,ban lệnh thường có 2 phần : Dự lệnh và Động Lệnh,phần ĐL
được nhấn mạnh và hô to,thí dụ "Thao diễn....NGHỈ" còn bên kia thì
"THAO DIỄN......nghỉ",giống như đang Gia Tốc thành Gia Giảm.
sau đó hắn cho đội đi tới đi lui một hồi rồi bán cái lại cho mấy ông trưởng
thay phiên nhau điều khiển còn hắn đứng quan sát,đến phiên mình
ra điều khiển tôi nghĩ trong đầu :"Hôm nay mày gặp thứ thiệt rồi con ạ,
ông cho mày biết thế nào là CBTD." Thế là tôi điều khiển hoàn toàn theo
lồi của mình,mà trong đội đa số cũng là Quân nhân nên không ai bỡ ngỡ hết,
thế là cả nhóm đi như trong quân trường,răm rắp như đang diễn hành vậy,quay phải,
quay trái,đằng sau, đều cùng nhịp hết,tên Tiến lừ lừ nhìn tôi,hắn có vẻ hơi quê độ
nên lặng lẽ bỏ đi.

Nỗi cực hình của các Tù nhân cs không phải lao động,mà là mỗi thứ 6 hàng tuần
phải ngồi họp phê và tự phê,bình bầu cá nhân xuất sắc,đầu tiên là họp các tổ riêng
sau đó mới họp đội,có nhiều tổ sản sinh ra nhiều ông "8" phát biểu lia chia có khi
tới nửa đêm chưa xong.Tổ của tôi thì rất lý tưởng,được quy tụ toàn những "Đầu gối" sịn
nên mỗi lần họp chỉ chừng 5 phút là xong :"Vâng báo cáo anh,quá trình lao động
trong tuần qua tôi nhận thấy tổ chúng ta đều tích cực cải tạo lao động tốt,không có
biểu hiện một tiêu cực nào cả,riêng về cá nhân xuất sắc,theo sự quan sát và nhận xét
của cá nhân tôi thì anh C lao động rất xuất sắc nên đề nghị (kỳ này) chúng ta bầu
cho anh C là CNXS,có ai có ý kiến gì không ? (im lặng) Như vậy chúng ta đã nhất trí
và bây giờ giải tán chờ họp đội...."
Trong khi đó bên tổ 2 do anh Tân (T/U cảnh sát) thì đang bình bầu sôi nổi và
căng thẳng để rồi xảy ra "biến cố",trong đám tù thường có 2 nhóm,một nhóm
thì "an phận" còn nhóm kia thì "Quậy" phá bĩnh,tà tà,"trây lười lao động",
khai bệnh liên miên.Bên nhóm an phận thì có anh Ng. văn  Bàng bị bắt trong
nhóm Hòa hảo ở Long Xuyên,anh là một người nông dân thuần túy,mộc mạc,
chất phát,có vợ con mà nghèo quá nên gia đình không có khả năng thăm nuôi
anh chỉ có một ý nghĩ đơn sơ duy nhất là "Lao động tốt,cài tạo tốt" để được về
sum họp với gia đình,còn bên kia thì có "siêu quậy" Ng. tú Cường chủ trương
CNXS nên chia phiên nhau cho đồng đều và cùng chia xẻ với nhau,
nhưng anh Bàng không chịu :"Trong tổ này tôi là người lao động và đạt năng suất
nhiều nhất cho nên tôi bắt buộc phải là CNXS".
Lời qua tiếng lại đưa đến ẩu đả nhưng mọi người ngăn kịp,tuy vậy sự ầm ĩ này
đã không "Ếm" được vì xung quanh còn có các đội khác và "Tai mắt" cũng khá
nên sự việc phải đem lên bàn mổ.
Vào buổi họp,ĐT và ĐP chưa biết giải quyết ra sao bèn nghĩ ra kế sách bán cái
cho các tổ trưởng lên tiếng trước nhờ đó mới chôm được ý tốt,nhìn hoàn cảnh này
tôi hơi ngao ngán,quay qua ngó Tùng nói nhỏ "Lại đầu gối nữa thôi",nhờ tổ 3
nên tôi còn có thời gian soạn bài diễn văn,trong khi 2 tổ trưởng kia đang 
phát biểu (Cò Dung tổ 1,Cò Tân tổ 2) thì tôi nẩy ra một bài diễn văn "Huề vốn"...
"Anh tổ trưởng tổ 3 có ý kiến gì không ?" Tôi bèn đằng hắng lấy hơi rồi nói :
"Thưa các anh,qua sự kiện đáng tiếc vừa xảy ra giữa anh Bàng và anh Cường
tôi xin có ý kiến như sau : 
    -Về anh Bàng,như chúng ta đều biết anh là một người có sức khỏe tốt và
lao động xuất sắc đạt năng suất rất cao,vượt trội hơn ai hết,thì khi anh nhận
mình là CNXS thì điều đó rất đúng,anh xứng đáng được như vậy....
    - Còn về anh Cường,một người sức khỏe hơi yếu,thường phải khai bệnh
để có thuốc uống,và anh cũng nhận mình xứng đáng là CNXS thì tôi thấy
điều đó cũng không có gì là......SAI !!!!!
   Vì chủ trương của đảng và nhà nước không đánh giá việc cải tạo,lao động
qua yếu tố sức khỏe mà dánh giá ở yếu tố "Nhiệt tình lao động",anh khỏe
thì anh làm nhiều,tôi yếu thì tôi làm vừa với sức của tôi thôi,
nhưng Nhiệt tình Lao động thì không ai thua ai cả.....
Nhưng có một điều ở đây,các anh và tôi đều có chung một ước mơ
mà tôi nghĩ đó là ước mơ đẹp : Một ngày nào đó chúng ta cùng khoác vai nhau,
bước ra cổng cùng một lúc,đó chính là dấu ấn không bao giờ phai nhạt
trong cuộc đời còn lại của mỗi người trong chúng ta,xin hết"
 Vừa nói xong,nhìn lên thấy nét rạng rỡ của 2 ông ĐT và ĐP :
"Tôi rất đồng ý với ý kiến của tổ trưởng tổ 3..."
trong khi đó quay qua bé Tùng tôi lắc đầu nói nhỏ : "Sao tao mệt quá...."
Thằng Bé cứ tủm tỉm ......
 Qua đây chúng ta thấy rằng làm chức sắc trong tù không phải là cái tội,
đó chỉ là bất đắc dĩ không có lựa chọn nào khác,một đội toàn cấp Tướng ,Tá
anh có tìm đâu ra một anh cấp Úy hay Hạ SQ để bán cái làm chuyện đó.
Điều chúng ta muốn nói,làm chức sắc nếu vẫn giữ được Nhân Cách,Danh Dự,
duy trì được Hòa Khí và Tinh Thần Đoàn Kết với nhau thì đó cũng là CHIẾN ĐẤU.


 
quoc-ky-vnchBĐT