Thứ Bảy, ngày 20 tháng 9 năm 2014

"CHỨC SẮC" trong TÙ

        "CHỨC SẮC" trong TÙ


Vào thời điềm 1984;lúc đó tôi đang ở trại B của A.20 Xuân Phước,
những đặc tính thường xảy ra với các trại là : chuyển trại,chuyển nhà
hay chuyển "Đội",mục đích để hóa giải những âm mưu nổi loạn
hay vượt ngục cùng những lý do khác....
Thời gian lạnh lùng trôi đi,"Lịch" cứ mỗi ngày mỗi chồng chất
không biết khi nào ngừng,lúc đó một đội Tù gồm 3 Tổ,điều hành đội
gồm Đội Trưởng,Đội Phó,Thư ký và 3 Tổ Trưởng.
Sau một lần chuyển đội,hệ thống điều hành,sinh hoạt cũng thay đổi theo,
Lúc đó ĐT là Lưu Kim Long,một cựu Đ/U Cảnh SáT,ĐP là Phạm Văn Thận
là Th/U,rất thân với tôi,cả 2 tuy còn độc thân nhưng đùa với nhau :
"Sau này tôi với Ông sẽ làm Sui Gia với nhau,O.K?" thế là mỗi lần găp nhau
cứ gọi nhau "Ông Sui,ông Sui..." òm cả tỏi làm mọi người phì cười 
"Sao tao mệt với 2 cái thằng SUI này quá..." Sau này qua Mỹ cà 2 đứa mới 
lập gia đình,khi bắt liên lạc với nhau,mỗi lần gọi phone tôi đều ân cần hỏi thăm:
"Này ông Sui,con DÂU tôi nó đã bỏ TÃ chưa ????"
Sau khi chuyển đội,nhân số không thay đổi bao nhiêu nhưng tổ 3 của tôi
lại thiếu Tổ trưởng,trong đó có NT của tôi là anh Năm Tấn K.14VB,Tr/Tá Pháo Binh,
Trịnh Đình Lâm giáo chức ,Hồ Hoàng Khánh Tr/sĩ Người nhái,con Võ sư Hồ Cẩm Ngạc,
Ng. Thanh Tùng một tù nhân Chính trị bị bắt vì tội chống phá vẹm,ăn cơm chung với Ngọc Đen.
  Lúc đó ông Sui tới gặp và cầu cứu nhờ tôi làm Tỗ trưỡng Tổ 3,vừa nghe xong
tôi dãy nảy liền "Ối giời! ông Sui tính làm tê liệt cuộc đời và sự nghiêp của tôi sao?
sau này nếu có lỡ dại ra tranh cử Tổng Thống chả lẽ tôi lại khoe : Năm 37 tuổi Cụ đã từng
làm Tổ trưởng Tổ 3 Đội 21 tại trại tù A.20 Xuân Phước.......Nghĩ tới viễn ảnh đó
là tôi hết Điên luôn"
 "Không phải,kêu mấy cha kia,ai cũng né hết,mà không né thì mình cũng không yên tâm,
mình cần người biết duy trì được hòa khí và tinh thần của mọi người với nhau."
Giằng co mãi cuối cùng cũng phải chiều lòng ông Sui (nếu không mất mẹ nó con Dâu...)
Thế là một trang sử thử thách mới bắt đầu lật qua,công việc điều hành thì không
có gì nặng nhọc,chỉ có đầu óc luôn phải chuẩn bị để đối phó với những gì sẻ xảy đến.

 Thử thách đầu tiên : Vào dịp chuẩn bị đón Tết,trại chỉ thị thực hiện một tờ Bích báo
với sự đóng góp bài vở của các "trại viên",thế là ban trật tự thi đua liền ra chỉ tiêu
cho các nhà,các đội làm sao nộp cho đủ 100 bài thơ,văn gì cũng được,
theo hệ thống quân giai phân phối từ trên xuống dưới thì mỗi tổ phải góp 2 bài,
một tin sét đánh ngang tai,mình đã thuộc loại VÕ chứ không phải VĂN,nhất là
viết bài "bốc thơm" thì lại càng không phải nghề của chàng,buổi tối ngồi sinh hoạt
hàng tuần với tổ,tôi bắt đầu năn nỉ mấy ông tổ viên,nhất là thầy giáo Trịnh Đình Lâm
đúng nghề của chàng,chỉ cần làm bài thơ con cóc,vô thưởng vô phạt nôp đủ chỉ tiêu
thế là xong,rốt cuộc điều phủ phàng đã xảy đến,tất cả đều "khẳng khái" từ chối.....
buồn quá hôm sau tôi khai bệnh xin nghỉ một ngày,tình hình lúc đó nghỉ ở trại
chúng không cho đi lang thang mà gom mấy tên khai bệnh vào một nhà,khóa lại
chờ các đội đi về mới mở cửa,hôm đó tôi mang theo mấy gói mì qua để "nấu nướng linh tinh"
và tán gẫu với nhau,lần này gặp ngay Thày Đạt,một tu sĩ Phật Giáo ở chung trại Hàm Tân
và ngủ cạnh nhau,Thày đặc biệt 2 bàn chân đều có 6 ngón,Thày cũng loại ba gai có hạng,
về khoản cãi cọ tay đôi với Vẹm thì khỏi chê,tôi còn nhớ Thày nằm ngay cửa sổ,
cứ 2,3 giờ sáng Thày thức dạy lẳng lặng ngồi giữa mùng và cửa sổ hướng ra ngoài,
ngồi theo kiểu thiền nhắm mắt và âm thầm tụng kinh,lúc đó một tên võ trang đi tuần
xung quanh,ngang qua đó thấy Thày đang ngồi,đứng đối diện nó hỏi : "Này anh kia,
anh đang làm gì đó ?",Thày vẫn nhắm mắt tiếp tục Tụng kinh không trả lời,
nó hỏi đến hơn chục lần vẩn im lặng Y chang,tức quá nó bèn xổ bựa :"Này thằng kia !
mày đang làm gì đó ???" Lúc đó thầy mới từ từ mở mắt ra :"Tại sao cán bộ gọi tôi là mày?"
"Ừ,tao gọi mày là mày,mày đang làm gì đó ???"
 "Nếu cán bộ gọi tôi là MÀY thì......TAO cũng gọi MÀY là MÀY !!!!!!!"
Thế là 21 ngày Biệt giam thoải mái.....
 Trở lại câu chuyện,gặp nhau Thày cười :"Hê Điên,hôm nay bị "Liệt" hả ?"
 "May quá hôm nay có Thày ở đây thật đỡ buồn,lát nữa mời Thày ăn sáng với tôi."
Thày nhận lời,sau khi ăn sáng xong ngồi tán gẫu,chợt nhớ đến vụ bích báo và Thày cũng
thuộc loại thơ văn cao cường,Tôi liền hỏi thày có biết vụ bích báo không,Thày nói biết chứ,
mừng quá tôi liền cầu cứu :"Thày có thể cứu tại hạ bằng 2 bài thơ con cóc,vô thưởng vô hại
được không? để nộp cho tụi nó cho xong nợ." Nghe xong Thày cười :"Chuyện nhỏ"
Tôi liền đi kiếm giấy bút đưa cho Thày,quả thật chỉ trong thoáng chốc,"ngoáy" một cái
đã xong 2 bài thơ,đọc thấy cũng hay mà chả liên quan gì đến bọn kia,
thế là hí hửng "Giao hàng",thường thì 100 đâu có đăng hết,nó đã trừ hao rồi
nên 100 chỉ lấy 50 thôi sau khi đã lọc lựa,thiên bất dung gian,sau khi lọc lựa xong
rốt cuộc 2 bài của mình lại được chọn đăng lên đúng là cười "té ghế"......

Một lần khác vì thời tiết mưa gió thất thường trại không cho ra ngoài lao động,
bắt tập trung trên hội trường ngồi chờ cho đến hết giờ mới cho giải tán,trực trại
là một tay sĩ quan cán bộ tên Tiến cấp bậc Tr/úy thuyên chuyển từ Nam Hà vào,
tay này thuộc loại Võ biền nên cung cách có phần "phổi bò" hơn mấy tên khác,
đỡ nham hiễm,một hôm muốn đổi không khi,hắn bắt tất cả ra tập họp và tập
Cơ bản thao diễn,muốn khoe cái tài chỉ huy,điều động của mình và chỉ cho
các đội trưởng,tổ trưởng cách hướng dẫn về CBTD.
Khi nghe hắn đứng ban lệnh tôi thật ngạc nhiên vì ngược hẳn với cách thức
của QL/VNCH,ban lệnh thường có 2 phần : Dự lệnh và Động Lệnh,phần ĐL
được nhấn mạnh và hô to,thí dụ "Thao diễn....NGHỈ" còn bên kia thì
"THAO DIỄN......nghỉ",giống như đang Gia Tốc thành Gia Giảm.
sau đó hắn cho đội đi tới đi lui một hồi rồi bán cái lại cho mấy ông trưởng
thay phiên nhau điều khiển còn hắn đứng quan sát,đến phiên mình
ra điều khiển tôi nghĩ trong đầu :"Hôm nay mày gặp thứ thiệt rồi con ạ,
ông cho mày biết thế nào là CBTD." Thế là tôi điều khiển hoàn toàn theo
lồi của mình,mà trong đội đa số cũng là Quân nhân nên không ai bỡ ngỡ hết,
thế là cả nhóm đi như trong quân trường,răm rắp như đang diễn hành vậy,quay phải,
quay trái,đằng sau, đều cùng nhịp hết,tên Tiến lừ lừ nhìn tôi,hắn có vẻ hơi quê độ
nên lặng lẽ bỏ đi.

Nỗi cực hình của các Tù nhân cs không phải lao động,mà là mỗi thứ 6 hàng tuần
phải ngồi họp phê và tự phê,bình bầu cá nhân xuất sắc,đầu tiên là họp các tổ riêng
sau đó mới họp đội,có nhiều tổ sản sinh ra nhiều ông "8" phát biểu lia chia có khi
tới nửa đêm chưa xong.Tổ của tôi thì rất lý tưởng,được quy tụ toàn những "Đầu gối" sịn
nên mỗi lần họp chỉ chừng 5 phút là xong :"Vâng báo cáo anh,quá trình lao động
trong tuần qua tôi nhận thấy tổ chúng ta đều tích cực cải tạo lao động tốt,không có
biểu hiện một tiêu cực nào cả,riêng về cá nhân xuất sắc,theo sự quan sát và nhận xét
của cá nhân tôi thì anh C lao động rất xuất sắc nên đề nghị (kỳ này) chúng ta bầu
cho anh C là CNXS,có ai có ý kiến gì không ? (im lặng) Như vậy chúng ta đã nhất trí
và bây giờ giải tán chờ họp đội...."
Trong khi đó bên tổ 2 do anh Tân (T/U cảnh sát) thì đang bình bầu sôi nổi và
căng thẳng để rồi xảy ra "biến cố",trong đám tù thường có 2 nhóm,một nhóm
thì "an phận" còn nhóm kia thì "Quậy" phá bĩnh,tà tà,"trây lười lao động",
khai bệnh liên miên.Bên nhóm an phận thì có anh Ng. văn  Bàng bị bắt trong
nhóm Hòa hảo ở Long Xuyên,anh là một người nông dân thuần túy,mộc mạc,
chất phát,có vợ con mà nghèo quá nên gia đình không có khả năng thăm nuôi
anh chỉ có một ý nghĩ đơn sơ duy nhất là "Lao động tốt,cài tạo tốt" để được về
sum họp với gia đình,còn bên kia thì có "siêu quậy" Ng. tú Cường chủ trương
CNXS nên chia phiên nhau cho đồng đều và cùng chia xẻ với nhau,
nhưng anh Bàng không chịu :"Trong tổ này tôi là người lao động và đạt năng suất
nhiều nhất cho nên tôi bắt buộc phải là CNXS".
Lời qua tiếng lại đưa đến ẩu đả nhưng mọi người ngăn kịp,tuy vậy sự ầm ĩ này
đã không "Ếm" được vì xung quanh còn có các đội khác và "Tai mắt" cũng khá
nên sự việc phải đem lên bàn mổ.
Vào buổi họp,ĐT và ĐP chưa biết giải quyết ra sao bèn nghĩ ra kế sách bán cái
cho các tổ trưởng lên tiếng trước nhờ đó mới chôm được ý tốt,nhìn hoàn cảnh này
tôi hơi ngao ngán,quay qua ngó Tùng nói nhỏ "Lại đầu gối nữa thôi",nhờ tổ 3
nên tôi còn có thời gian soạn bài diễn văn,trong khi 2 tổ trưởng kia đang 
phát biểu (Cò Dung tổ 1,Cò Tân tổ 2) thì tôi nẩy ra một bài diễn văn "Huề vốn"...
"Anh tổ trưởng tổ 3 có ý kiến gì không ?" Tôi bèn đằng hắng lấy hơi rồi nói :
"Thưa các anh,qua sự kiện đáng tiếc vừa xảy ra giữa anh Bàng và anh Cường
tôi xin có ý kiến như sau : 
    -Về anh Bàng,như chúng ta đều biết anh là một người có sức khỏe tốt và
lao động xuất sắc đạt năng suất rất cao,vượt trội hơn ai hết,thì khi anh nhận
mình là CNXS thì điều đó rất đúng,anh xứng đáng được như vậy....
    - Còn về anh Cường,một người sức khỏe hơi yếu,thường phải khai bệnh
để có thuốc uống,và anh cũng nhận mình xứng đáng là CNXS thì tôi thấy
điều đó cũng không có gì là......SAI !!!!!
   Vì chủ trương của đảng và nhà nước không đánh giá việc cải tạo,lao động
qua yếu tố sức khỏe mà dánh giá ở yếu tố "Nhiệt tình lao động",anh khỏe
thì anh làm nhiều,tôi yếu thì tôi làm vừa với sức của tôi thôi,
nhưng Nhiệt tình Lao động thì không ai thua ai cả.....
Nhưng có một điều ở đây,các anh và tôi đều có chung một ước mơ
mà tôi nghĩ đó là ước mơ đẹp : Một ngày nào đó chúng ta cùng khoác vai nhau,
bước ra cổng cùng một lúc,đó chính là dấu ấn không bao giờ phai nhạt
trong cuộc đời còn lại của mỗi người trong chúng ta,xin hết"
 Vừa nói xong,nhìn lên thấy nét rạng rỡ của 2 ông ĐT và ĐP :
"Tôi rất đồng ý với ý kiến của tổ trưởng tổ 3..."
trong khi đó quay qua bé Tùng tôi lắc đầu nói nhỏ : "Sao tao mệt quá...."
Thằng Bé cứ tủm tỉm ......
 Qua đây chúng ta thấy rằng làm chức sắc trong tù không phải là cái tội,
đó chỉ là bất đắc dĩ không có lựa chọn nào khác,một đội toàn cấp Tướng ,Tá
anh có tìm đâu ra một anh cấp Úy hay Hạ SQ để bán cái làm chuyện đó.
Điều chúng ta muốn nói,làm chức sắc nếu vẫn giữ được Nhân Cách,Danh Dự,
duy trì được Hòa Khí và Tinh Thần Đoàn Kết với nhau thì đó cũng là CHIẾN ĐẤU.


 
quoc-ky-vnchBĐT
 

Chủ Nhật, ngày 01 tháng 6 năm 2014

VŨ ÁNH VÀ TÔI – CHUNG MỘT ĐOẠN ĐỜI

VŨ ÁNH VÀ TÔI – CHUNG MỘT ĐOẠN ĐỜI

   (Xin gởi đến hương hồn anh Vũ Ánh
   như một nén nhang tiễn biệt.
   Và đến chị Yến Tuyết
   như một lời chia buồn muộn màng)
             Phạm Đức Nhì


Một Tâm Hồn Trẻ Trung Sôi Nổi

Ngày đầu tiên bị giải đến Trại Trừng Giới A20 Xuân Phước, tất cả chúng tôi – thành phần cứng đầu, khó cải tạo từ các trại -bị lùa vào hội trường để được dằn mặt và đưa vào khuôn phép. Mở đầu là màn văn nghệ ca tụng đảng và nhà nước có tính cách bắt buộc. Cán bộ giáo dục yêu cầu một người tù trong chúng tôi ra bắt giọng cho mọi người hát một bản nhạc cách mạng để lấy khí thế. Hối thúc hoài cũng chẳng ai thèm ra. Cuối cùng, khi hắn giở giọng đe dọa thì tôi nóng mặt đứng lên bắt nhịp cho anh em hát bài Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ của Nguyễn Đức Quang. Được gãi đúng chỗ ngứa anh em hát muốn bể tung hội trường. Cán bộ giáo dục và ban thi đua ú ớ chẳng biết gì nên dù "ngờ ngợ có cái gì không ổn" cũng không làm chi được. Sau buổi họp, mấy bạn trẻ như Tú Cường, Nguyễn Hữu Hồng ... đến bắt tay tôi tỏ vẻ đồng cảm và ngưỡng mộ một hành động nhanh trí và can đảm, giữa đường thấy chuyện bất bình thì phản ứng liền. Đám trẻ của chúng tôi là như vậy. Tôi bắt tay các bạn một cách vui vẻ rất ... bình thường. Riêng anh Ánh, lúc ấy đã gần 40, vẻ mặt trí thức, chững chạc đến vỗ vai, bắt tay tôi đã là ... đặc biệt rồi. Anh lại còn ôm chặt tôi ra vẻ rất quý mến: "Tôi tưởng cậu hát nhạc của tụi nó nên đã muốn chửi thề trong miệng, nhưng khi nghe câu hát đầu tiên tôi khoái quá, hát muốn khàn cả cổ". Tôi với anh quen nhau, gần gũi nhau ngay từ hôm ấy. Sau này ra hải ngoai anh còn viết bài Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ Của Nguyễn Đức Quang Trong Nhà Tù Cộng Sản kể lại sự kiện này. Tôi có cảm tưởng ở cái tuổi của anh lúc ấy, đối với một sự việc bình thường như vậy, thái độ "nóng máu muốn chửi thề" của anh, thật giống bọn trẻ chúng tôi: Rất Trẻ Trung Và Sôi Nổi.

Dáng Đứng Hiên Ngang Bất Khuất

Sau 2 tháng bị cùm, bị đánh, bị bỏ đói, bỏ khát cho chết, nhờ có được bản năng và khát vọng sinh tồn mạnh mẽ của tuổi trẻ, tôi đã không chết, và khi cán bộ trực trại mở cửa xà lim, tháo cùm, tôi vẫn còn đủ sức vừa đi, vừa bò khoảng 30 mét ra khỏi khu biệt giam để rồi đươc các bạn tù xốc vai dìu về khu nhà ở. Vừa được anh em giúp tắm rửa xong thì tất cả có lệnh lên hội trường. Trật tự thông báo đích danh tôi (Phạm Đức Nhì), dù đang nằm xoải chân, xoải tay, hết hơi, hết sức, cũng không được ở lại phòng.

Chủ Nhật, ngày 13 tháng 4 năm 2014

5 Tướng VNCH tử tiết ngày Quốc Hận




Tướng Nam, Tướng Phú, Tướng Vỹ, Tướng Hưng, và Tướng Hai thương quân như con, hy sinh thân mình để tránh máu đổ thịt rơi không cần thiết của binh lính và Bá Tánh thì dù có chiến bại cũng xứng đáng gọi là Đức tướng, Lương tướng, và Hiền tướng vậy.


Thật vậy, 5 Tướng VNCH tuẩn tiết trong ngày 30/4/75 đã lấy cái chết của mình để tránh một cuộc tương tàn máu lệ thay vì quyết định chiến đấu một mất một còn đến hơi thở cuối cùng. Đó là Dũng và Đức của bật đại nhân vậy.

Cứ nghiệm đi rồi biết.



Chủ Nhật, ngày 06 tháng 4 năm 2014

TIỄN ĐƯA A20 VŨ ÁNH

TIỄN ĐƯA A20 VŨ ÁNH

Anh lặng lẽ về nơi cõi Phật
Chúng tôi buồn chất ngất tiễn đưa anh
Anh đã 73,
Sống chết cũng thường tình
Nhưng đưa tiễn bạn mình,
Sao đau thế !!!.

Anh chán ngấy cõi đời dâu bể
Chốn cơ hàn ganh ghét với cùm gông
Nhưng liệu anh có thực quên không?
Vợ con anh vẫn phiêu bồng cõi thế!

Nói về anh bạn tù luôn nhắc kể
Chén khoai mì muối bể trắng như bông
Cùm chữ U xiết chặt trẹo đôi mông
Đêm quạnh quẽ tử thần về đâu đó.

Anh coi lũ cai tù như sâu bọ
Ngày viết báo chui, đêm hát nhạc vàng
mười ba năm đói khổ vẫn hiên ngang
Cất tiếng hát vang vang nơi địa ngục.

Đất nước đảo điên nổi trôi cùng thế tục
Hết phát thanh, làm báo, đến phóng viên
Lúc đạp xích lô, xẻ gỗ kiếm thêm tiền
Hết cầm bút, cầm cưa, rồi cầm súng.

Tôi thương anh người trai kiêu dũng
Nụ cười hiền đôi mắt sáng long lanh
Anh đã bền gan hiến cả đời mình
Cho lẽ phải công bình trên trái đất.

Hôm nay anh đi về nơi cõi Phật
Bao tấm lòng chân thật đến đưa anh
Hãy cứ ra đi, dù giấc mộng chưa thành
Mưa bão hết lộng hành trời sẽ sáng.

(A.20 Nguyễn Đức Thành)

      Cali 3/15/2014

Thứ Ba, ngày 25 tháng 3 năm 2014




20 Bùi Đạt Trung đọc Điếu Văn 

-Kính thưa Chị Ánh và Tang Quyến
-Kính thưa Quý Thân Hữu
-Kính thưa các Cựu Tù A.20 Xuân Phước

Tôi xin đại diện Đại Gia đình A.20 Xuân Phước
xin gửi đến Hương Hồn anh Ánh một "Nén Hương tưởng niệm"

Nén hương tưởng niệm

Một nén hương
Thắp cho anh
Vũ văn Ánh
A20 trừng giới năm nào
Trong gông cùm
Hầm tối biệt giam
Dù thân xác
Hao mòn,đói khát
Ngẫng cao đầu đối mặt
Loài dã thú thành người
Hành hạ anh từng ngày tháng
Chúng cố diệt
Tinh thần người bất khuất
13 năm tù
6 năm biệt giam
Không dài,cũng chẳng ngắn
Sống hiên ngang
Không gục đầu,không khuất phục
Vẫn một lòng bền dạ
Trước kẻ thù hiểm ác
Rồi năm tháng trôi qua
Trở về nơi chốn cũ
Bên mẹ già
Cùng đứa con thơ dại
Chiếc xích lô
Bạn đồng hành
Trong cuộc sống kẻ sĩ
Thế rồi
Đời viễn xứ
Tha phương đất khách
Tiếp bước hành trình
Tìm lại sân chơi
Vẫn biết kẻ còn,người mất
Với bạn bè dựng lại cuộc chơi
Bằng ngòi bút thay cho súng đạn
Mong một ngày
Quang phục lại quê hương
Mặc bao tiếng thị phi
Ghen ghét và đố kỵ
Vẫn tiếp tục
Dấn thân vì lý tưởng
Một buổi chiều thứ sáu
Ảm đạm đau buồn
Đột ngột anh từ giã
Bỏ bạn bè
Bỏ cả người thân
Gây bao niềm thương nhớ
22 năm dài
Vắng mặt trên sân
Khi biết được tin nhau
Chưa một lời thăm
Anh đã về
Nơi miền miên viễn
Tôi không là thi sĩ
Chẳng phải là nhà văn
Chỉ biết ngồi ghi lại
Thay cho nén nhang buồn
Tưởng niệm bạn tù cũ
Mong nơi chốn vĩnh hằng
Thanh thản và bình yên.
A20 TMH


Thứ Tư, ngày 19 tháng 3 năm 2014

Vũ Ánh: Món Nợ Văn Hoá & Tình Chiến Hữu

Vũ Ánh: Món Nợ Văn Hoá & Tình Chiến Hữu

Sáng nay dậy sớm check mail, tôi thấy bàng hoàng về cái tin “Thương tiếc chiến hữuVũ Ánh” của anh Võ văn Sáu (Góp Gió), người bạn cùng trại tù A20 Xuân Phước với anh. Tôi không mấy tin vào sự thực của tin tức trên mạng. Nhưng khi đọc bài chia xẻ tâm tình của anh, thấy nhắc tin anh Tống Phước Hiến “ chia buồn” tôi mới lặng đi và tin đó là sự thực...
Đúng ra tôi với anh Vũ Ánh không quen biết nhau nhiều. Anh chỉ là người bạn của chú em tôi Phạm đức Nhì, bạn tù với anh ở Trại Trừng giới Xuân Phước mà chú tôn là bậc đàn anh rất thân thiết và tôn qúy. Từ đó qua giao tiếp của em tôi, tôi có dịp gặp gỡ đôi lần.
Trước đây khi còn trong quân ngũ ở bên nhà, tôi biết rất ít về anh vì mỗi người phục vụ ở mỗi môi trường riêng. Tôi thực sự biết đến tên anh qua bài phóng sự về một đơn vị Nghĩa quân thuộc Vùng Bốn Chiến Thuật. Chuyện kể về anh trung đội trưởng nghĩa quân ở vùng quê “xôi đậu”. Gia đình có hai anh em đã trưởng thành, vẫn sống chung với mẹ. Anh là lớn rất cương nghị có lập trường quốc gia sắt thép, đã đối xử với người em theo CS một cách rộng lượng nhưng cũng rất cương quyết, khiến bà mẹ vì thương con phải cưu mang, vô cùng khó xử. Đã lâu lắm rồi không còn nhớ hết tình tiết câu chuyện, nhưng qủa thực bài viết của anh đã tạo ấn tượng sâu sắc trong tôi về những giằn vặt và ngang trái của những đứa con khác chính kiến cùng một mẹ, và những đớn đau thổn thức của bà mẹ Việt Nam.
Sau này tôi có biết tên và vai trò chứng nhân của anh những giây phút cuối cùng của Miền Nam Việt Nam, qua việc thu băng lệnh đầu hàng của TT Dương văn Minh tại Đài phát thanh quân đội như anh Võ văn Sáu đã kể, nhưng tôi vẫn chưa từng biết mặt.
Trong những năm sau này, chú em tôi có gởi cho tôi những bài viết về những hoạt động báo chí văn nghệ phản kháng trong trại A20 với những bài thơ nhạc nức lòng tranh đấu của những người trẻ dù bị ngược đãi  tận cùng nhưng vẫn hiên ngang không biết sống chết là gì.  Trong những tác phẩm đấu tranh viết bằng máu và nước mắt đó có những bài Thơ Chống Cộng hừng hực chí căm hờn và bài viết của chú: “ Những Tiếng Hát Bừng Sáng A20.” Qua đó tôi biết được vai trò của anh Vũ Ánh, một người gương mẫu gan dạ, được sự tín cẩn, khâm phục, nể vì của các anh em trong vai trò lãnh đạo văn nghệ và báo chí đấu tranh. Tất nhiên trong hoạt động phản kháng anh em đã phải chiụ đựng sự đàn áp khát máu của cai tù, nhưng theo chú, mỗi khi gặp tai ương anh đều nhận hết trách nhiệm thay cho các anh em khác. Đây là một điểm son mà anh em ghi nhận và khâm phục ở phong cách, lý tưởng và bản lãnh nơi anh.  
Rồi một lần, cách nay có đến trên mười năm, chú em tôi Phạm đức Nhì từ Taxas qua chơi, chú có mời anh chị Vũ Ánh đến nhà. Lúc ấy anh Vũ Ánh có lẽ khoảng sáu mươi, tóc còn đen và trông rất chững chạc.
Đây là lần đầu tiên tôi được hân hạnh biết anh chị Vũ Ánh. Lúc ấy gia đình chúng tôi qua Mỹ cũng chưa lâu, chị Yến Tuyết đã làm ở cơ quan an sinh xã hội nên rất sốt sắng trao đổi với chúng tôi những thông tin hữu ích mà chị biết. Riêng anh, dù chỉ mới sơ giao nhưng qua câu chuyện trao đổi, tôi nhận thấy ở anh một mẫu người điềm đạm, hiểu biết và chân tình. Điều làm tôi cảm động và lúng túng, đã giữ mãi ấn tượng đến nay là ở chỗ cá tính khiêm cung, trung thực trong cách xưng hô mà tôi gọi là “món nợ văn hoá.” Tôi mong ước được thanh thoả khi có dịp gần gũi hơn, nhưng chuyện đã không bao giờ có thể...
Số là, vốn biết tôi vai anh của chú Nhì nên khi gặp mặt, anh rất vui vẻ tự nhiên. Anh “xưng em” với chúng tôi một cách thoải mái, chân tình mặc dù tuổi tác lúc ấy tôi được Nhì cho biết, trên tôi vài tuổi.
Tất nhiên tôi rất e ngại và cảm thấy lúng túng ngại ngùng. Tôi thành thực xin anh coi như bè bạn, vì anh cũng là một chiến hữu, còn chú Nhì là trong thân tộc họ hàng. Anh chậm rãi trả lời, vì anh chơi với chú em tôi như anh em trong gia đình nên cũng coi tôi như anh.
Câu trả lời và cách cư xử của anh rõ ra là một người đôn hậu và thấm nhuần văn hoá dân tộc. Mặc dù tôi rất ngại ngùng, không thuyết phục được anh thay đổi cách xưng hô, nhưng tôi phải nhìn nhận tính khiêm cung nhân hậu của anh là một ưu điểm hiếm thấy nơi những thế hệ sống tại hải ngoại “qúa dồi dào lòng tự hào” như chúng ta. Tôi trộm nghĩ, nếu như mọi người đều trong lòng thành thực cư xử tử tế vơi nhau như anh, chắc hẳn cộng đồng chúng ta phải khác nhiều như chúng ta hằng mong ước.
Lần thứ nhì cách nay không xa, anh đến tôi để đón chú em đi dự buổi hội ngộ các bạn tù A20 tổ chức tại Cali. Lần này tóc anh đã bạc nhiều. Trông anh khá bận rộn nhưng vẫn còn khoẻ mạnh. Tranh thủ gặp anh, tôi có hỏi về câu chuyên ông thày bói và báo xuân Người Việt dạo nào, anh rầu rĩ tâm sự, qủa là lỗi của anh. Là chủ bút tờ báo xuân anh chiụ hoàn toàn chịu tràch nhiệm. Lý do là, bận rôn quá anh ngủ thiếp đi không kìểm soát hết được bài vở lên khuôn, nên đã có kẻ lợi dụng. Anh rất ân hận về việc làm tắc trách đó và xin chịu trách nhiêm trước độc gỉa.
Hôm nay anh đã vĩnh viễn ra đi ở tuổi bảy ba. Với anh, tôi nghĩ lương tâm không có gì phải ân hận dù anh trong khi làm việc có phạm một vài sai sót ngoài ý muốn. Tôi thành tâm nghĩ rằng một người có tấm lòng nhân hậu với bạn bè và tha thiết với quê hương như anh, phải được đối xử công bằng; đừng để những ngộ nhận làm nản lòng và che phủ những tầm lòng cao đẹp đã có một thời cùng chung chí hướng hiến dâng cho quê hương đất nước khổ đau. Xin hãy trả lại cho gia đình anh niềm hạnh phúc và tự hào đã cùng anh chia xẻ.
Vĩnh biệt anhVũ Ánh! Món nợ văn hoá tôi không bao giờ được trả, nhưng những tình cảm qúi mến trong tôi vẫn mãi hướng về anh.
Xin nguyện cầu ơn trên ban hồng phước cho anh được an nghỉ nơi cõi vĩnh hằng,
Xin chân thành chia xẻ sự mất mát to lớn của chị Yến Tuyết và các cháu.
Một chiến hữu qúi mến và thương tiếc anh,


Phạm Đức Khôi

-----------------------------------------------------------------------

Thứ Ba, ngày 18 tháng 3 năm 2014

Anh Vũ Ánh và Tôi
Nguyễn Khanh, GĐ Ban Việt ngữ RFA
2014-03-16




  • vu-anh-305.jpg

Nhà báo Vũ Ánh
Courtesy Người Việt/Triết Trần
“Lính mới”
Tôi gặp anh lần đầu cách đây cũng hơn chục năm. Lúc đó tôi còn là thông tín viên ở Washington D.C. của Nhật Báo Người Việt, vài tháng lại được anh Đỗ Ngọc Yến hay anh Lê Đình Điều gọi về California họp hành, bàn chuyện. Trong một lần về tòa soạn, một trong hai anh giới thiệu tôi với anh Vũ Ánh, bảo “đây là người mới nhất của mình”, ý muốn bảo anh là “lính mới” của tờ báo.
Tôi nhớ như in anh cười rất tươi, vừa bắt tay tôi vừa bảo “mới từ DC xuống hả”, nói thêm “tôi có nhiều người bạn thân trên đó lắm”, nói xong anh kể một dọc những tên tuổi của làng báo Việt Nam ngày xưa, trong số đó có ông vẫn theo nghề cũ như anh Phạm Trần làm việc ở Đài VOA, cũng có những ông buông bút từ ngày lên đường vượt biển. Anh cũng bảo với tôi là từng có lúc sống ở Virginia, “bên đó lạnh quá, tôi chạy sang bên này thời tiết ấm hơn”.

Thứ Hai, ngày 17 tháng 3 năm 2014

Người bạn đồng nghiệp đầy nhân hậu

Nhà báo Vũ Ánh : 
Người bạn đồng nghiệp đầy nhân hậu  .

LỜI TÒA SOẠN : (Bài viết dưới đây là của ông Lê Phú Nhuận, người đồng nghiệp lâu năm vói nhà báo Vũ Ánh . )
Từ năm 1965, giới truyền thông miền nam Việt Nam, từ truyền thông chính phủ, đến các báo tư  nhân, đã có một bước chuyển mình rất rõ nét, từ cung cách thụ động xưa cũ, sang một sắc thái mới, tích cực hơn, chủ động và đầy sống động, với một lớp phóng viên trẻ, được đào tạo theo các tiêu chuẩn quốc tế. Trong số ký giả trẻ đó có Vũ Ánh, người vừa mới qua đời hôm 14 tháng 03 vừa qua, tại California, hường thọ 73 tuổi.
Trong suốt thời gian từ 1965 cho đến tháng Tư 1975, tôi làm việc song hành với Vũ Ánh trong cơ quan truyền thông chính phủ, và cũng chia xẻ nhiều điều mà người khác không có được. Vì thế, ngoài tình đồng nghiệp qua nhiều lần sinh tử có nhau, còn là một tình bạn nhiều trân trọng.
Năm 1966, đài phát thanh Sài gòn cử tôi và Vũ Ánh ra Đà Nẵng để phụ trách phần tin tức, thời sự cho một đài phát thanh mới thành lập. Tại đây tôi là người chứng kiến những bước đầu đời của Vũ Ánh đi vào cuộc hôn nhân thứ nhất, mà sau này cũng có nhiều oan khuất. Tôi cũng là người đã vác cuốc xẻng đào huyệt mộ để chôn cất một trong hai đứa con trai bé nhỏ của Vũ Ánh , đã chết vì phỏng nước sôi quá nặng. 

Thứ Bảy, ngày 15 tháng 3 năm 2014


Vĩnh biệt chú Vũ Ánh!





BY NGOCLAN · MARCH 14, 2014 · 
·










Vừa kết thúc một cuộc phỏng vấn lúc 7 giờ tối thì nghe tin: chú Vũ Ánh qua đời!
What? Tôi sửng sốt.
Chạy vào phòng Biên Tập, thấy anh Thiện Giao. “Chú Ánh mới mất hả anh Giao?” – “Ừ, đang confirm tin này.”
Tôi thẫn thờ.
Dĩ nhiên ngay lúc đó không ai có thể gọi cho cô Yến Tuyết, vợ chú Vũ Ánh, được hết.

Thứ Tư, ngày 25 tháng 12 năm 2013

KHÔNG CÒN ĐÔI NẠNG GỖ

KHÔNG CÒN ĐÔI NẠNG GỖ




* Thương tiếc Việt Dzũng

Đường anh đi nhẹ tênh, không cần đôi nạng gỗ
Bao nhiêu niềm thương nhớ, bao ước vọng hoài mơ
Anh để lại nguồn thơ cho cuộc đời hiện thực
Trái tim hồng đỏ rực như ánh sáng mặt trời

Anh đi về biển khơi, không cần đôi nạng gỗ
Anh chèo mưa bão tố đi cứu vớt hình hài
Đại dương nào chờ ai? Anh là con sóng biển
Thuyền đi vào miên viễn, anh gọi tiếng bi ai

Cuộc đời bao chông gai, anh vượt qua khốn khó
Con tim buồn trăn trở, đôi nạng gỗ cưu mang
Anh hát lời ca vang, Khúc Da Vàng nhỏ lệ
Lời Kinh Đêm của Mẹ xoa dịu vết đau thương

Tiếng hát vượt trùng dương trên bước đường hoạn lộ
Dòng đời trăm nhánh trổ nên nước mắt cạn nguồn
"Chút Quà Cho Quê Hương" bao tình thương nỗi nhớ
Triệu người qua thống khổ, triệu người tim nát tan

Anh ôm đàn tình tang hát ru đêm bất tận
Con tim không thù hận đi gieo rắt tình người
Cuộc đời vẫn nổi trôi, quê hương còn đen tối
Bao năm dài mong mỏi cho đất nước yên vui

Anh không còn đơn côi trên dòng đời bão nổi
Trái tim không mệt mỏi cho khát vọng quê hương
Anh là nguồn yêu thương, tin yêu và hy vọng
Vòng tay anh mở rộng cho đất nước tình người

Anh như làn mây trôi giữa khung trời tĩnh lặng
Không gian buồn sâu lắng trong tiếng gọi tên anh
Bầu trời xanh vẫn xanh, anh yên lành giấc ngủ
Cuộc đời như quá đủ cho giấc mơ một người.



Xuân Mai