Thứ Tư, 6 tháng 2, 2013

Ba tôi . . . Người Lính đổi màu


Nguyễn Khắp Nơi





Ba mươi tám năm trôi qua thật nhanh.
Mới ngày nào, tôi chỉ là một đứa bé học lớp Hai của trường Tiểu Học Bàn Cờ, nay đã là một trung niên 44 tuổi đầu. Tuy tôi đã có gia đình riêng, đang có việc làm và vẫn sống ở khu Bàn Cờ này, nhưng tương lai không biết đi về đâu!
Khi còn nhỏ, tôi nghe rất nhiều người chung quanh tôi, mỗi khi nói về thời gian, họ thường dùng chữ . . . "Trước ngày giải phóng" hoặc "Sau ngày giải phóng". Lúc đó tôi còn nhỏ quá, chẳng hiểu giải phóng là cái gì? Trước giải phóng là ngày tháng năm nào? Sau giả phóng là ngày tháng năm nào? Khi lớn lên, đã hiểu được chữ giải phóng, đám chúng tôi không dùng những chữ đó, mà chỉ nói: “Thời Cộng Hoà” và “Thời bị đô hộ” mà thôi. Nhắc như vậy để nhớ thân phận của mình.
Vào thời điểm tháng Tư năm 1975, tôi mới được bẩy tuổi đầu, đang học ở trường Tiểu học Bàn Cờ. Với số tuổi đó, tôi không nhớ nhiều những chuyện xẩy ra chung quanh tôi, chỉ nhớ là vào những ngày tháng cuối cùng của thời Cộng Hoà, anh em tôi và đám bạn bè chòm xóm hàng ngày đều cắp sách vớ đến trường học. Tôi có sách in để tập đọc và những cuốn vở giấy trắng để tập viết. Tôi tập viết bằng bút chì và dùng bút bi để tô lại những giòng chữ đã viết bằng bút chì trước đó.
Vào một buổi sáng, khi anh em tôi sửa soạn đi học thì chợt nghe những tiếng nổ lớn thật gần, lúc thì nghe như ở ngoài đường và khi thì đường như ở trên không. Má tôi dặn hai anh em tôi ở trong nhà, không được đi đâu, để má chạy ra ngoài ngõ xem xét tình hình. Anh Trung, anh lớn của tôi lúc đó đã lên học trung học rồi, anh hiểu biết hơn tôi nhiều lắm, anh chạy ra cửa sổ nhìn lên trời một lúc rồi la lên thật lớn:
"Máy bay trực thăng bay nhiều quá! Lại đây coi nè Nam, không biết lính mình bay đi đâu mà nhiều vậy cà?"
Tôi chạy lại chỗ anh Trung, nhìn theo hướng anh chỉ, thấy ba chiếc máy bay trực thăng đang bay xát với nhau ở trên trời, phía sau lại có thêm ba chiếc nữa. Anh tôi đã lớn, có thắc mắc là phải, còn tôi thì đâu có biết gì đâu mà hỏi. Một lát sau thì mẹ tôi chạy trở về, nói với anh em tôi:
"Ngoài đường người ta chạy đông lắm. Có người nói máy bay của mình đã ném bom vào phi trường Tân Sơn Nhứt, khói đen bay đầy trời. Thôi, bữa nay tụi con nghỉ học đi, để mai mốt coi ra sao."
Má tôi quay trở vào bếp ngồi lui cui sửa soạn gánh hàng đem ra chợ bán. Tôi thấy má tôi ngồi đó thôi chứ không làm được gì, một hồi, bà lên nhà trên nói với anh Hai tôi:
"Hổng biết ba mày lúc rày đang ở đâu nữa? Đánh tới Sàigòn rồi!"
Đi tới đi lui trong nhà một hồi, má tôi lại nói với anh em tôi:
"Hai đứa bay ở nhà, má qua nhà Bác Bẩy để hỏi coi bả có đi chợ bán hông?"
Hai anh em tôi lại trở lại cửa sổ đứng nhìn máy bay bay, một hồi vẫn chưa thấy má tôi về, anh Trung biểu tôi lấy mấy cuốn tập ra để anh chỉ tập đọc. Tới gần trưa má tôi mới trở về nhà, mặt má buồn rầu rầu, nói với tụi tôi:
"Má đi ráp xóm, hổng ai muốn ra chợ hết trơn. Dì Tám thì lo xếp quần áo đồ ăn khô đặng lỡ Việt cộng đánh vô như hồi Tết Mậu Thân, còn có đồ mà chạy, có đồ mà ăn. Để má cũng xếp cho tụi con đứa một bọc đặng lo thân. Má có hỏi, nhưng bác Bẩy Trai với dương Tám cũng còn ở đơn vị, không có về, chắc đánh lớn lắm."

45 Năm Sau Mậu Thân





45 Năm Sau Mậu Thân: Máu Vẫn Chưa Khô Trên Thành Phố Huế
Phạm Trần
“Không ai ảo tưởng sử học đứng ngoài chính trị nhưng lẽ ra phải biết nhìn thẳng, nhận thức quá khứ một cách sâu sắc mới có thể đạt tới một tương lai tốt đẹp thì dường như chúng ta lựa chọn một cái nguyên lý hời hợt hơn là “khép lại quá khứ” gần như đồng nghĩa với quên lãng quá khứ chỉ vì một nhận thức nông cạn nhằm đáp ứng một nhu cầu tế nhị đương đại. Một lịch sử thiếu công bằng như thế khó có thể tạo nên một niềm tin vào lịch sử, nhất là của giới trẻ.”

Đó là lời của Nhà sử học, Đại biểu Quốc hội Dương Trung Quốc đã viết trên báo Lao Động và được báo Dân Trí đăng lại này 07/08/2011.

Nếu đem quan điểm của ông ứng dụng vào lịch sử đảng Cộng sản Việt Nam và Lịch sử cuộc chiến tranh được gọi là hào hùng của dân tộc trong sự nghiệp “chống Mỹ cứu nước” hay “giải phóng miền Nam” thì qủa thực
bộ máy tuyên truyền xuyên tạc sự thật của đảng đã “vo tròn bóp méo” lịch sử để nhồi nhét vào đầu thanh thiếu niên Việt Nam trong nhiều thế hệ những gỉa dối để đạt mục tiêu giết đi sự thật.

Nhưng sự thật thì muôn đời vẫn là sự thật và chỉ khi nào biết nhìn nhận sự thật thì mới làm tốt cho tương lai.

Thứ Bảy, 2 tháng 2, 2013

Nỗi Buồn Nhớ Mẹ


Lời đầu năm của người vợ tù chính trị
     
Lê thị Xuân
(Cựu nữ Thiếu Úy CSQG)

         
            Thế là đã 20 năm xa quê, tôi vẫn khắc khoải thương nhớ quê hương, nơi mà mỗi góc phố, mỗi con đường còn ghi đậm trong tim tôi..
          Cũng như anh, người bạn đường của tôi, mỗi mùa xuân tới, là một háo hức được về thăm quê Mẹ, nhưng cũng mỗi mùa xuân tới, vẫn còn lưu lạc nơi đất khách, chúng tôi lại se sắc niềm đau vì lại thêm một lần thất hứa và lại thêm một lần hứa sẽ trở vế.
            Dù “tuổi già giọt lệ như sương”, trong khóe mắt cay cay nỗi ngậm ngùi. Tôi chia với anh “nỗi đau chưa được về như đã 19 lần hứa sẽ về:

                                     Nỗi Buồn Nhớ Mẹ

                              
                         

                                 Hai mươi mùa xuân nơi xứ lạ,
                             Hai mươi lần. con hẹn sẽ về,
                             Con Vẫn còn nguyên bao ước nguyện
                             Vẫn còn nguyên vẹn khối tình quê

                   Nhớ buổi ôm hờn xa đất Mẹ
                   Trời mây trắng xóa một màu tang.
                   Lệ con chảy ngược vào tim máu
                   Xương óc con ghi lẽ bẽ bàng.

Mười chín năm dài nghe Mẹ gọi
Khắc khoải căm hờn ngập núi sông.
Đất khách bồi thương nhớ Mẹ
Ray rứt niềm đau, xé cõi lòng.

                   Tiếng Mẹ vực con đứng thẳng người
                   Giúp con tiếp bước với cha ông
                   Hồn thiêng quyện mãi vào hơi thở
                   Con quyết trở về với Quê hương.

Con nhớ nỗi buồn nơi mắt Mẹ
Mẹ ơi, con Mẹ tóc ngã màu
Sương gió làm con thêm nhớ Mẹ
Xa Mẹ, đau hoài một  nỗi đau

                                          (Tống phước Hiến – Nỗi buồn nhớ Mẹ)

           Tôi, người chị cả trong gia đình có 8 người em, bố là Hạ sĩ quan Nhảy dù, mẹ tảo tần. Như những gia đình khác, cuộc sống bình thường, chúng tôi cũng được đến trường. Nhưng biến cố Tết Mậu thân, ba tôi phải giải ngũ vì bị thương nặng. Biến cố nầy lôi tôi ra khỏi học đường. Tôi gia nhập vào Lực Lượng Cảnh Sát Quốc Gia Việt Nam Cộng Hòa phục vụ tại “Ban Thăng Thưởng và Thuyên Chuyển” thuộc Bộ Tư Lệnh Cảnh Sát Quốc Gia Việt Nam Cộng Hòa  (BTL/CSQG/VNCH). Tuy thế, các em tôi vẫn được tiếp tục đến trường.
Đầu năm 1973, tôi gặp một Sĩ quan mới tốt nghiệp và được BTL/CSQ VNCH chọn về phục vụ tại BT/CSQG. Qua giao thiệp, anh cho biết đã làm đơn xin ra đơn vị. Theo hệ thống hành chánh, đơn của anh nằm trong hồ sơ xin trình ký của tôi. Đơn anh viết”Tình nguyện phục vụ trên toàn lãnh thổ VNCH”, gây trong tôi vài ý nghĩ. Tôi giúp anh ra khỏi BTL/CSQG.Thời gian sau, anh gởi thư cám ơn, nhờ vậy, tôi biết anh phục vụ tại một buôn trên cao nguyên, đó là vùng chướng khí, hầu hết là người Thượng, an ninh khá nguy hiểm. Tuy thế, anh vui lòng và không hối hận. Tin qua thư lại, cuối cùng chúng tôi là của nhau.      

Chủ Nhật, 6 tháng 1, 2013

KHÔNG THÍCH CỦA NÀO TRỜI TRAO CỦA NẤY (Part 2)



 














Trước 1975,khi du khách đến Đà Lạt và ghé Hồ Than Thở đều thấy có một tấm bảng to tướng

với những hàng chữ đập vào mắt mọi người :

"TRƯỜNG VÕ BỊ QUỐC GIA VIỆT NAM,
NƠI QUY TỤ NHỮNG CHÀNG TRAI CÓ LÝ TƯỞNG QUỐC GIA"

Bây giờ hồi tưởng lại tôi thấy khi đó mình chỉ là một chàng trai có Lý tưởng "Bất đắc dĩ",
không biết có ai "Trùng hợp" không nhưng xin các Bác đừng vội "Nhíu mày" vì tôi sẽ xin
"Trải lòng" sau đây :
Là một người DI CƯ sống và lớn lên trong 2 nền Đệ Nhất và Đệ Nhị Cộng Hòa,hưởng một
nền Giáo dục hầu như trọn vẹn (Không như bây giờ...),mình chỉ có một ước mơ bình thường
như các bạn khác là cố gắng học lên cao hay du học để sau này giúp ích cho đời,cho đất nước.
ở bất kỳ lãnh vực nào cũng hướng về đất nước thì đều là Lý Tưởng cả.
Nhưng chỉ vì cái tội ham dzui nên "Thiên bất dung gian",rớt Tú Tài 2(66-67),năm sau thi lại
vừa đậu thì gặp biến cố Mậu Thân,đưa đến luật Tổng động viên của Ton Ton Thiệu khiến mình
bị triệt buộc,không thể tiếp tục học và phải nhập ngũ theo học khóa 7/68 Trừ bị Thủ Đức,
trước kia TVBQGVN không có một cái gì "Ấn tượng" với tôi cả,chỉ có một vài trường hợp tiếp xúc
với các Cùi NT,như khi học thi tại nhà bạn thì Chú của Bạn mình là Cố NT Nguyễn Đức Cần K.19
Binh Chủng Dù,thỉnh thỏang về phép,sau này Tử trận tại Khe Sanh,nhìn hình ảnh NT trong bộ đồ Dù tôi thấy rất hào hùng,bản tính mình lại hay thích xem những phim hành động như Chiến tranh,Cow boy, Kiếm hiệp,Quyền cước....tỏ rõ cá tính thích phiêu lưu,năng động chứ không thích ngồi một chỗ.
Sau khi bị dính trấu nhà binh,ngồi xem TV,tình cờ có Show Cổ động cho K.25 do Khóa 22B phụ trách, tôi và người bạn lên Đà Lạt chơi,nhân tiện ghé vào trường Võ Bị và gặp Trung Tá Đồng Văn Chân Trưởng phòng TLC,lại được dịp nghe quảng cáo,sau đó NT cho tụi tôi tập tài liệu về Trường và Đơn ghi danh.

Thứ Năm, 3 tháng 1, 2013

Đi Vào Lòng Địch

Câu chuyện thật của một Người Nhái Hải Quân VNCH.

(Theo lời kể của ông Nguyễn Văn Kiệt và dữ kiện trong các trang web)



Lời ngỏ: Cuối năm 2001 người xem TV các chương trình “Suicide Missions” (History Channel), “Navy SEALs: Untold stories” (TLC - The Learning Channel) sẽ thấy một nhân vật Việt Nam tên Kiệt được nhắc đến trong những chuyến công tác chưa bao giờ được kể lại. Nhân vật này là ai? Tình tiết trong các phim tài liệu đó có chính xác không? Mời đọc giả đi ngược thời gian….
Cách đây gần 30 năm về trước, vào mùa hè năm 72 được biệt danh là “Mùa Hè Đỏ Lửa”. Cộng sản Bắc Việt (CSBV) mở cuộc tấn công xâm lăng miền Nam Việt Nam ở ba mặt trận: Quảng Trị, Cao Nguyên, An Lộc. 30 ngàn quân CSBV trang bị vũ khí tận răng, tràn qua vùng phi quân sự (DMZ) ở vĩ tuyến 17, vượt tràn qua sông Bến Hải. Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) và đồng minh ở trong thế giằng co với kẻ địch….


Phi cơ thám thính điện tử EB-66.

Thứ Sáu, 7 tháng 12, 2012

Cố Thiếu Tướng Trương Quang Ân

Hiện Tượng Độc Nhất

Phù hiệu Sư Đoàn 23 Bộ Binh, Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.
Bài viết về Cố Thiếu Tướng Trương Quang Ân, QL-VNCH, huyền thoại về những con người của lịch sử phương Đông xưa cũ. Hình ảnh chỉ có tính minh họa.
***
Cố Thiếu Tướng Trương Quang Ân – Tư lệnh Sư Đoàn 23 Bộ Binh
Để biết được đầy đủ hơn về cuộc đời kiệt liệt của một người lính cực lớn, chúng ta phải bắt đầu lại chuyện kể từ thời điểm sớm nhất, ngày TSQ Trương Quang Ân tốt nghiệp thiếu úy khóa 7 Sĩ Quan Hiện Dịch Trường Võ Bị Liên Quân Đà Lạt với vị thứ thủ khoa, tháng 12, năm 1952.
Thiếu úy Trương Quang Ân có đủ tất cả điều kiện thuận lợi để được thuyên chuyển đến một văn phòng bình yên tránh nơi lửa đạn, hoặc một đơn vị tham mưu, chuyên môn (mới thật sự đúng với khả năng tham mưu sắc sảo của ông sẽ được chứng thực ở thời gian sau). Nhưng không, ông đã chọn binh chủng Nhảy Dù, đơn vị tổng trừ bị cho những chiến trận lớn nổ rộng suốt miền châu thổ Bắc Việt Nam, nơi những đỉnh núi cao lẫn trong mây vùng bắc Trường sơn dọc biên giới Lào Việt.

Thứ Ba, 27 tháng 11, 2012

Chết Tập Thể Trong Tù Cải Tạo


Lời nói đầu: Khi chính quyền Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) non trẻ của miền Nam Việt Nam sụp đổ bởi sự phản bội của nước bạn đồng minh, quân Cộng miền Bắc tiến chiếm miền Nam, trên thế giới đã có một nhận định cho rằng: Sẽ có cuộc tắm máu xảy ra. Nhưng không, rút kinh nghiệm của các nước Cộng Sản anh em và của chính Cộng Sản Việt Nam (CSVN) qua những lần tắm máu, sau khi cướp được chính quyền, bị thế giới lên án nặng nề. Lần này, sau ngày 30 tháng Tư năm 1975, CSVN không áp dụng thủ đoạn tắm máu mà thi hành chính sách KHÔ MÁU đối với Quân Dân Cán Chính VNCH.
Bài viết sau đây, tôi kể lại một chuyện thật, không hư cấu, một trong trăm ngàn sự thật về chính sách đối xử tàn độc của chế độ CSVN với nhân dân Miền Nam Việt Nam! Đề tài khô khan, mong người đọc thông cảm.

TRẠI TÙ SUỐI MÁU, Biên Hòa
Phản Kháng Của Tù Cải Tạo Trong Đêm Noel 1978

Thứ Tư, 31 tháng 10, 2012

Người thương binh



Người thương binh vắn số.



Là một hoa tiêu trực thăng, tôi đã tham dự nhiều phi vụ tản thương nhưng đây có lẽ là trường hợp đặc biệt trở thành một kỷ niệm buồn cho tôi…
Chúng tôi được gọi đến bốc thương binh cho một đơn vị Địa Phương Quân.
Anh lính được khiêng trên cái cáng làm bằng áo mưa nhà binh và đặt nằm ngay sau lưng ghế của phi công, bụng và ngực băng thấm máu loang lổ, nằm thiêm thiếp…
Phi cơ đang bay thì anh tỉnh đậy, lấy tay khều sau lưng ghế. Nghe tiếng động, tôi quay lại, anh ra dấu là muốn hút thuốc. Tôi lấy một điếu thuốc, châm lửa, cởi seat belt cúi xuống gắn lên môi anh. Cố gắng lắm, anh mới rít được vài hơi rồi lắc đầu tỏ vẻ không muốn hút nữa. Tôi lấy điếu thuốc vứt đi… Nằm thiêm thiếp một lát, anh lại gọi và đưa cho tôi cái bóp của anh, ra dấu như muốn nhắn tôi điều gì. Cúi sát để nghe anh thều thào là anh đang cảm thấy thân thể lạnh từ từ, chắc không sống được nên nhờ tôi mang cái bóp về cho gia đình, hình ảnh vợ con và địa chỉ ở trong đó. Tôi nhận lấy cái bóp, lòng lo sợ vì phải chăng anh đã biết là mình sắp chết? Tôi hối hoa tiêu phụ bay nhanh thêm để hy vọng đem anh về kịp bệnh viện. Thỉnh thoảng ngó lại trông chừng, nhưng chưa về đến thì anh đã trút hơi thở cuối cùng, đầu nghẹo sang một bên, khuôn mặt bình thản như người đang ngủ. Đây là lần đầu tiên trong đời, tôi chứng kiến một người trút hơi thở cuối cùng.
Tôi cảm nhận giữa biên giới sống chết chỉ là một hơi thở mong manh! Đời thật vô thường, thế là xong một kiếp người bạc bẽo!

TÌNH LÍNH




Người Lính trong xã hội lúc nào cũng là kẻ thiệt thòi... phải chăng điều đó vẫn còn đúng (?)
Chuyện này gần như không là truyện... hư cấu, nếu người đọc là một cựu quân nhân QLVNCH.
Xin mời các CỤ đọc... giải trí cuối tuần.


TÌNH LÍNH
Hieunguyen11

Những ngày tháng Giêng, năm 1973 đơn vị tôi đóng quân tại quận Phú Giáo, tỉnh Bình Dương khoảng hơn hai tháng. Ta và địch đặt trong tình trạng án binh bất động của Hiệp Định Ngưng Bắn da beo. Trong thời gian dưỡng quân này, tôi thường ra chợ Phú Giáo uống cafe nghe nhạc tại một quán nhỏ. Ở đây có một cô bé thường bưng cafe cho tôi trông rất dễ thương. Cô ta tên KO, con của chủ quán.

Thứ Bảy, 20 tháng 10, 2012

Lời tử sĩ


Lời tử sĩ
Dâng lên anh linh tử sĩ đã có lúc an nghỉ
tại nghĩa trang Quân Đội Biên Hòa
Mẹ chớ đắp cho con ngôi mộ mới
Để xương con rữa nát với thời gian
Làm phân bón cây nhân quyền sai trái
Cho ngày sau con cháu sống huy hoàng
Em chớ buồn nhìn mộ anh xiêu tán
Thấy bia anh đầy dấu đạn căm thù
Ngay cả núi sông giặc còn rao bán
thì hồn nào yên được giấc ngàn thu!
Con hãy để xác cha hòa với đất
Ba chết rồi, cải táng được gì đâu!
Đồng đội ba biết bao người bỏ xác
Dưới truông hào, trên núi thẳm, rừng sâu
Chị hãy để cho em vào phiêu lãng
cho em quên mối hận tháng Tư buồn
Bao mươi năm đất miền Nam tươi sáng
chỉ một ngày mưa thấm lệ trào tuôn
Bạn hãy để cho tôi tròn tiết tháo
Sống anh hùng thì chết cũng quang vinh
Chớ xin xỏ bọn cường quyền vô đạo
Thêm tủi lòng người đã quyết hy sinh
Nếu bạn muốn tôi ngàn thu yên giấc
xin hãy thay tôi dựng lại cờ vàng
Tôi không muốn được mồ tươm mả tất
Khi nước nhà mây vẫn trắng màu tang

Vũ Đình Trường




Các bạn quý mến,

Trong cuộc chiến VN, rất nhiều gia đình có thân nhân ở trong và ngòai Quân đội đã vĩnh viễn nằm xuống vì sự dã man của CSVN. Ai trong số những Gia đình không may đó đọc được bài thơ này mà không thấy mắt mình cay cay

Thứ Bảy, 6 tháng 10, 2012

Những trại tù cuối cùng

Kiều công Cự, TQLC….
Trên đường về Nam (12/1980)
Sau Giáng Sinh, 300 người chúng tôi từ trại Nam Hà B được chuyển về Nam đợt 2, trong đó có tôi. Thật là một điều vui mừng và hạnh phúc (!)
Chúng tôi lên xe từ trại B (Nam Hà), đi ngang qua trại A, qua trại C rồi men theo conđường đất đỏ, nham nhở, vùng Chi Nê, Thanh Liêm, qua thị trấn Phủ Lý rồi đoàn xe dừng lại ở nhà ga Bình Lục. Bấy giờ là nửa đêm và đoàn tàu đã chờ sẵn ở đấy. Chúng tôi lần lượt gồng gánh lên tàu. Một số ngồi dưới sàn, một số ngồi trên ghế.Toa tàu như một phòng giam lưu động. Cửa đóng kín và cài then từ bên ngoài. Theo thủ tục của công an thì bất cứ cuộc di chuyển nào cũng phải còng tay hai người làm một. Không phải còng inox của Mỹ mà là còng nội hóa nhiều cái đã rỉ, không co giãn theo cổ tay lớn nhỏ mà chỉ có một cỡ. Người nào cổ tay lớn thì bịcòng siết chặt đau điếng. Tuy thế chúng tôi cũng tìm cách mở ra cho được thoải mái. Khi nào tàu dừng ở đâu, bọn chèo lên kiểm soát thì chúng tôi đưa tay vào còng.