Trong Lửa Đỏ,
Giữa Sự Chết,
Trên Quê Hương!
Phan Nhật Nam
Một
Cách đây 50 năm, tại Nghĩa Trang Quân Đội Gò Vấp, Gia Định những
buổi chiều mưa dầm Tháng 6 miền Nam, anh xoay xở quay quắt giữa những thây chết
của những người lính thuộc đơn vị đầu đời, Tiểu Đoàn 7 Nhẩy Dù, Tiểu Đoàn 52
Biệt Động, Tiểu Đoàn 2/7 Sư Đoàn 5 Bộ Binh.. Những người chết của chiến trận
Đồng Xoài, Bình Dương nổ ra từ những ngày đầu Tháng 6. Đối với một gã lính vừa
qua tuổi 20 năm ấy, sự mất mát của hàng trăm chiến hữu chỉ được đưa về sau
nhiều ngày kể từ khi tử trận quả là một sự đau thương quá lớn.. Thân thể người
chết căng cứng, xanh đen, tím thẩm, dòi bọ lúc nhúc bò theo những vết thương
sũng máu. Khoảng đất nghĩa trang đặc sánh bởi máu, thịt, con người chảy vữa,
sênh sếch.. Trong đó có máu, thịt của bạn anh, Thiếu Úy Trần Trí Dũng, gã
học sinh đã cho bạn cùng lớp và toàn Trường Phan Châu Trinh Đà Nẵng niềm hãnh
diện.. Vô địch bóng bàn học sinh, thủ quân đội bóng rỗ, cũng là trung phong
hàng đầu của hội tuyển bóng tròn trường trung học đá hay nhất miền Trung. Nhưng
giờ đây, tất cả dạng hình tươi trẻ sống động của Dũng với lúm đồng tiền trên má
không còn nữa.. Kéo fermeture bao đựng xác – Bạn anh, người bạn ấu thơ của Đà
Nẵng hơn mươi năm trước bấy giờ chỉ là một thây xác sùi sụp nước nhờn tím thẩm
hôi hám. Có chăng được phần an ùi. xác Dũng còn nguyên dạng hình chưa bị vữa
nát. Buổi đá banh năm xưa ở Sân Vận Động Chi Lăng làm sao tưởng ra tình cảnh
nầy Dũng ơi?!
Xóm nhà dân trước nghĩa trang phải di tản vì mùi hôi thối bốc kín
đặc khoảng không. Tiếng kêu khóc của thân nhân tử sĩ âm âm oán thán, xót xa, xé
cắt.. Có bà cụ vật vã thều thào bên chiếc poncho gói xác người vừa lật mặt.. Nam ơi! Nam ơi! Sao cháu bỏ bà.. Anh ngồi xuống bên cạnh bà cụ.. Bà ơi, con cũng tên Nam, cha mẹ con không còn,
con gọi bà bằng bà thay anh Nam. Trở về hậu cứ đơn vị nơi phi trường Biên Hòa, sân cờ tiểu đoàn
trắng màu khăn tang, con trẻ chạy thất thanh quanh những người mẹ đang nằm lăn
trước bậc thang các văn phòng đại đội.. Thiếu úy ơi! Thiếu úy ơi! Hóa ra anh là
sĩ quan còn sót lại của một tiểu đoàn nhảy dù mà từ tiểu đoàn trưởng, tiểu đoàn
phó, 4 đại đội trưởng đồng tử nạn.. Không biết Đại Úy Phát, đại đội trưởng Đại
Đội 74 và đám quân binh thất lạc nay đang ở đâu. Thế nên, những tưởng Tháng 6
năm 1965 đã quá sức chịu đựng của con người - Cho dẫu là người lính có khẩu
hiệu Nhẩy Dù Cố Gắng!
Hai
Từ trên trực thăng ở Quảng Trị đổ về Huế trong ngày Mồng Bốn Tết Âm
Lịch anh đã thấy ra một Thành Phố Huế chết lặng. Người Huế chết khi ẩn núp sau
những gốc cây bị pháo, hỏa tiễn cộng sản bắn lật ngược, cạnh hàng hàng rào chè
cháy xém; trên lề đường với mỗi viên gạch đồng bị vỡ vụn, nơi sân nhà
trước chiếc bàn thờ xiêu đổ.. Người chết đang qùy lạy ông bà, với áo mới thấm
máu, xé rách, con trẻ còn cầm trong tay bao đỏ tiền lì xì đầu năm.. Tuy nhiên
cảnh chết của Huế không chỉ xẩy ra trong khu Thành Nội, trên đường Mai Thúc
Loan, Đinh Bộ Lĩnh, khu sân bay Tây Lộc, ở những cửa thành Thượng Tứ, Đông Ba..
Chết ở Huế trùm khắp, mọi chốn, tại mỗi phân đất tại vùng Bãi Dâu, bên cạnh
Sông Hương, nơi sân Trường Gia Hội, Chùa Áo Vàng.. Và sau ngày quân cộng hòa
chiếm lại Kỳ Đài, đám cán binh cộng sản gồm du kích, nội thành, và bộ đội miền
Bắc bị đánh bật ra khỏi khu cố thủ Gia Hội, trên đường rút lui mang theo những
tù nhân vốn chỉ là con trẻ vị thành niên, người già, phụ nữ.. Nhưng đối tượng
làm con tin cho lần tháo chạy. thế nên cuối cùng, thì cảnh chết, sự chết đã
hiện thực, vượt khỏi sự tưởng tượng của bất cứ ai còn có Nhân Tính – Bởi người
Huế đã tiếp bị thảm sát do những kẻ cùng chung khu phố, chung xóm nhà cư ngụ.
Không sót một người. Không trật một người. Người Huế bị giết do một Sự Ác được
ngụy danh là “giải phóng”, để thỏa mãn mặc cảm vô dụng, hèn kém của những kẻ
gọi là “trí thức cách mạng”, điễn hình đặc chất Huế như Hoàng Phủ Ngọc Tường,
Hoàng Phủ Ngọc Pham, Nguyễn Đắc Xuân, Nguyễn thị Đoan Trinh, Tôn Thất Dương
Kỵ.. Người Huế chết chật hết những bụi lùm ở Khe Đá Mài vùng núi Ngũ Tây; sùm
sụp bước chân của đoàn người tìm kiếm trong những ngày hè cùng năm năm 1968.
Hơi thây chết bốc lên theo nắng đầu hè miền Trung ong óng như hờn oan. Nhưng
hởi ôi! Chết ở Huế cũng chưa đủ cho cuộc đau thương của người Việt. Người Việt
miền Trung chiếm đầu bảng đầu oán hận. Không phải đợi dài lâu.
Ba
Anh đang ở trên cây số 9 từ Quảng Trị kể đến, vùng thôn Mai
Đẳng, xã Hải Lăng..Không thể dùng một chữ, một tĩnh từ, không thể nói, khóc,
la, trước cảnh tượng trước mặt, chỉ có thể im lặng, chỉ có thể nghiến răng, bặm
môi, dù răng vỡ, môi chảy máu tươi, tay luống cuống, mắt mờ nhạt, mũi phập
phồng.Không có thể biết gì về thân thể đang mở ra trước sự tàn khốc trước
mặt.Trời ơi ! Hình như có tiếng kêu mơ hồ dội ngược ở trong lồng ngực, trong cổ
họng, nơi óc não, hay chỉ là ảo giác của con người mất hết khả năng kiểm
soát.Kiểm soát làm sao được nhịp đập của quả tim, không ai ngăn cản cơn chớp
liên hồi của đôi mắt, tay nổi da gà, những sợi gân ở thái dương phồng lên đập
xuống – Máu chảy ngúc ngắc trăn trở lăn lóc khô khan khó nhọc trong những gân
căng đến độ chót ... Cũng không phải như thế - Anh không biết, hoàn toàn không
biết được gì của xác thân. Anh không còn là người đang sống, vì sống là sống
cùng với người sống, chia xẻ vui buồn, đau đớn lo âu với người sống. Chung
quanh anh trước mặt chỉ còn một hiện tượng, một không khí - Chết. Phải, chỉ có
Sự Chết bao trùm vây cứng. Chỉ có nỗi chết đang tầng tầng phủ chặt kín không
gian. Cho dù rằng, Tháng 4, 5, 1972 ở An Lộc với những ngôi mộ vô danh,
mộ tập thể, những cái chết câm lặng đến độ chót của đau đớn kinh hoàng, người
cha trầm tĩnh đi tìm từng cái chân, cánh tay của năm đứa con vừa bị tan thây vì
quả đạn đại pháo, nhưng lại còn được một nấc chót - Bên cạnh người chết vẫn còn
người đang sống - Ở An Lộc, anh thấy được loại người cuối đáy đau thương đó. An
Lộc lại quá nhỏ, chỉ hơn một cây số vuông, cái chết cô đặc lại, ngập cứng vào
người nhanh và gọn như nhát dao ngọt.Cái đau đến chớp mắt, người chưa kịp chuẩn
bị thì đã ngập hẳn vào trong!
Nhưng ở đây, thôn Giáp Hậu, Mai Đẳng, Hải Lâm của Quảng Trị thì
khác hơn An Lộc một bậc, hơn trên một tầng, tầng cao ngất chót vót, dài hơn An
Lộc một chặng, dài hun hút mênh mông.sự chết trên 9 cây số đường này là 9 cây
số trời chết, đất chết, chết trên mỗi hạt cát, chết trên đầu ngọn lá, chết
vương vãi từng mảnh thịt, chết từng cụm xương sống, đốt xương sườn, chết lăn
lóc đầu lâu, chết rã rời từng bàn tay cong cong đen đúa ... Anh đi theo chiếc
xe công binh ủi một đường dài, những xác chết, không, phải nói những bó xương
bị dồn cùng áo quần, vật dụng, chạm vào nhau nghe lóc cóc, xào xạc, “đống rác”
người ùn ùn chuyển dịch, một chất nhờn đen đen ươn ướt lấp lánh trên mặt nhựa -
nhựa thịt người !!Trời nắng, đồng trắng, con đường im lìm, động cơ chiếc xe ủi
đất - phải gọi xe ủi người mới đúng - vang đều đều, hơi nắng bốc lên từng đường
trên mặt nhựa, hơi nặng mùi ... Vạn vật chết trong lòng ánh sáng. Ánh sáng có
mùi của Sự Chết. Nếu cảnh chết tập thể của người Do Thái ở các trại tập trung
gây nên niềm bàng hoàng xúc động, vì thế giới chứng kiến, thấy ra được những
“xác người,” chồng chồng lớp lớp. Chín cây số đường chết của Quảng Trị không
còn được quyền dùng danh từ “xác chết” nữa, vì đây chết tan nát, chết tung tóe,
chết vỡ bùng ... Chết trân tất cả mọi cái chết.Không còn được “người chết” trên
đoạn đường kinh khiếp đến tột độ của chốn quê hương thê thảm đọa đày.
Anh ra khỏi 9 cây số đường kinh hoàng đến La Vang Thượng, xuống đi
bộ vào La Vang chính tòa, nơi Tiểu Đoàn 11 Dù đang chiếm giữ. Hai cây số đường
đất giữa ruộng lúa xanh cỏ, anh đi như người sống sót độc nhất sau trận bão lửa
đã thiêu hủy hết loài người.Đường vắng, trời ủ giông, đất dưới chân mềm mềm
theo mỗi bước đi, gió mát và không khí thênh thang. Anh ngồi xuống vệ đường bỏ
tay xuống ao nước kỳ cọ từng ngón một. Anh muốn tẩy một phần sự chết bao
quanh ? Có cảm giác lạ : Anh vừa phạm tội. Tội được sống.
Bốn
Nhưng cuối cùng..Hóa ra, Khổ Đau/Sự Chết nơi chiến trận Đồng Xoài
1965 chỉ là khúc dạo đầu phần bi thảm với những người lính tử trận. Cuộc tàn
sát Mậu Thân, 1968 cũng trong giới hạn của ngàn người dân Thành Phố Huế bị đập
đầu, chôn sống. Và cho dẫu ngọn lửa Mùa Hè 1972 gớm ghê khốc liệt bao nhiêu cũng
chỉ bùng cháy, tiêu hủy các thị xã An Lộc, Kontum, Quảng Trị.. Hóa ra Địa Ngục
Miền Nam không chỉ chứng ấy. Hóa ra khổ đau Miền Nam không chỉ với vài ngàn,
vài chục ngàn người chết, những thị xã bị tiêu hủy.. Tai ương Việt Nam/Thảm Họa
Miền Nam thăm thẳm vô bờ với mùa xuân uất hận không thể nào quên. dẫu hôm
nay 40 năm sau 1975. Chúng ta hãy nhìn lại đoạn đường máu thẩm của một Dân tộc
đọa đày trên quê nhà điêu linh.. Đầu xuân năm 1975, vào buổi Tháng Ba,
thêm một lần người Miền Nam tự hỏi: Cộng sản sắp đánh ở đâu? Khi nào sẽ đổ ra
thêm một trận máu xương với lực lượng cộng sản miền Bắc nhất quyết thực hiện
bước cuối cùng cái gọi là sự nghiệp “giải phóng miền Nam thống nhất đất nước”.
Sự nghiệp cách mạng mà 40 năm sau 1975 bày ra tình cảnh nguy nan vô hạn với
hiễm họa mất nước về người Hoa, và xã hội Việt Nam chìm ngập xuống vực thẵm
băng hoại, suy vong
Vào Tháng Ba năm 1975, lãnh thổ miền Nam đã bị mất một phần thuộc
phía bắc sông Thạch Hãn, Quảng Trị của quân Khu I; ở Quân Khu II mất phần đất
nằm về mặt bắc và tây của vùng Trường Sơn; Và quanh Sài Gòn một vùng rộng lớn
của miền Đông Nam Bộ từ thượng lưu sông Đồng Nai qua Phước Long, Bình Long, Tây
Ninh về Long An, Hậu Nghĩa, xuống Kiến Tường, Định Tường thuộc châu thổ sông Cửu
Long. Trong tình hình chung như vừa kể, Thiếu Tướng Phạm Văn Phú Tư lệnh Quân
Đoàn II đóng ở Pleiku lúc ấy không thể quyết đoán cụ thể về kế hoạch quân cộng
sản sẽ đánh ở đâu trong vùng Quân Khu II. Trong khi ấy, cộng sản Hà Nội lập kế
hoạch, bắt đầu với chiến dịch Tây Nguyên từ 4 tháng 3 đến 3 tháng 4 năm 1975
mang mật danh là Chiến Dịch 275. Cuộc tiến công xử dụng các đơn vị cấp sư đoàn
bộ binh Bắc Việt có chiến xa, đại bác nặng yểm trợ khởi cuộc nổ súng từ ngày
ngày 10 Tháng 3 năm 1975 với mục tiêu là Ban Mê Thuộc, thành phố cực Nam của
vùng cao nguyên. Bộ chính trị, quân ủy trung ương tại Hà Nội đã điều động thực
hiện cuộc tấn công miền Nam với hai lợi điểm mà thật sự là hai ưu thế quyết
định. Đấy là sự bất ngờ về tình báo thêm được bảo đảm bằng cái ô chính trị
tuyệt đối an toàn tức là biết chắc Mỹ sẽ không bao giờ can thiệp lại vào Việt
Nam. Cụ thể Hạm Đội Mỹ quay mặt trước lần hải quân Trung cộng đánh chiếm Hoàng
Sa của VNCH, tháng 1, năm 1974.
Trong cuộc họp mật của Bộ Chính Trị Trung Ương Đảng vào tháng 1 năm
1975 trước khi phát lệnh tấn công miền Nam theo kế hoạch Chiến Dịch 275,
Ông Phạm Văn Đồng, thủ tướng chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa một bên ký kết
Hiệp Định Tái Lập Hòa Bình tại Việt Nam đã hân hoan tuyên bố: “Cho kẹo Mỹ
cũng không dám trở lại Việt Nam!"
Ngày 10 Tháng 3 năm 1975, quân đoàn Tây Nguyên dưới quyền tổng chỉ
huy của Tổng tham mưu trưởng Văn Tiến Dũng đến từ Hà Nội đồng loạt tấn công vào
thị xã Ban Mê Thuộc với những sư đoàn 324, 324B, 320, 308, 316 và cả sư 341
tổng trừ bị của quân đội miền Bắc. Nhưng khi quân dân Ban Mê Thuộc đang trên bờ
vực sống-chết thì báo chí thế giới, báo cộng sản ở Hà Nội, báo phản chiến ở
Sàigòn đều đồng thanh phát biểu: "Cách mạng giải phóng miền Nam là do mâu
thuẫn giữa giai cấp cách mạng và giai cấp phản cách mạng; giữa nhân dân tiến bộ
và thành phần ngụy quân, ngụy quyền phản động; giữa lực lượng vũ trang cách
mạng và tập đoàn quân phiệt, phát xít công cụ của chủ nghĩa thực dân mới kiểu
Mỹ..."
Với sư đoàn F10 làm mũi nhọn được hai sư đoàn 320, 316 tăng cường,
và sư 341 làm tổng trừ bị, lực lượng cộng sản có khoảng 25,000 người được pháo
binh, chiến xa nặng yểm trợ phối hợp. Đối lại tại thị xã Ban Mê Thuộc phía VNCH
chỉ có khoản 1,200 lính chiến đấu trong tổng số lính hậu cứ của Sư Đoàn 23 Bộ
Binh, lực lượng Địa phương quân Tiểu khu Đắc-lắc, và Liên đoàn 22 Biệt động
quân. Thế nên từ hai giờ sáng ngày 10 tháng Ba, giờ mở lệnh tấn công mà tướng
Dũng ước tính chiến trận Ban Mê Thuộc sẽ chấm dứt sau một tuần nhưng chỉ đến 5
giờ 30 chiều cùng ngày, thị xã Ban Mê Thuộc hầu như thuộc về phần kiểm soát của
quân Bắc Việt cho dù Biệt Động Quân và bộ binh vẫn tiếp tục chiến đấu. Dũng cứ
tưởng như là giấc mơ. Và Dũng đã đi từ giấc mơ sang một vùng ảo giác vào những
ngày sau khi được báo cáo: Quân đoàn II tháo chạy!
Cuộc di tản dọc Tỉnh Lộ 7 theo lộ trình Pleiku-Phú Bổn xuống
Tuy Hòa quá lớn với mối đau thương dài đặt trên hai trăm cây số đường núi
với hai trăm ngàn dân thường đi từ hai thành phố Kontum, Pleiku. Phải, chỉ là
dân thường những người nghèo không đủ tiền mua vé máy bay vào những tuần, tháng
trước. Trời cao nguyên buổi tàn xuân gây gây rét vào sáng, càng về trưa nắng
cao và nóng khô khan, đường bụi mù tung đỏ bám vào thành xe, nòng pháo, khí cụ,
tóc và da mặt ngưi, vạn tròng mắt đỏ rực. Những tròng mắt mệt mỏi lo âu, tuyệt
vọng. Phía sau lưng, thị xã Pleiku bốc lửa ngọn, khói đen đặc ngật ngật bay lên
cao hơn đỉnh núi Hàm Rồng. Lửa lóng lánh ánh sáng kinh dị trong đôi ngươi những
người lính Liên Đoàn 7 Biệt động quân, thành phần hậu vệ đoàn di tản. Trời cao
nguyên với thị trấn Pleiku thường chĩu lặng sương mù nay oằn thân vật vã trong
màu lửa địa ngục. Lửa từ khối đống kim loại vũ khí, từ những kho quân nhu, quân
cụ soi loang loáng chập chờn những đường dốc hun hút lẫn khuất dưới tàng thông.
Tất cả đồng nhóm lên màu đỏ chói. Màu đỏ của máu lửa soi chập chờn đoàn người
di tản thê thiết. Đoàn di tản qua được một ngày bình an. Bình an sống sót qua
đói, khát, nhục nhằn và lo âu. Lính gục trên mũi súng, đàn bà, con trẻ nằm rũ
lên hành lý, thành xe, đất cát. Được sống, được ngủ là hạnh phúc quá lớn hở
trời? Còn biết kêu vào đâu? Với ai? Nhưng nỗi bình an này không kéo dài được,
bởi người cộng sản chỉ trong ngày 16 tháng Ba đã tìm ra đáp số cho câu hỏi:
Quân đoàn II đang tính gì sau chấn thương ngày 10 tháng Ba tại điểm bất ngờ Ban
Mê Thuộc? Qua máy dò tìm làn sóng điện, Bộ Tư Lệnh Mặt trận B3 cộng sản khám
phá những phi cơ C47, C130 xuất phát từ phi trường Cù Hanh (Pleiku) đi Nha
Trang không có lượt bay về. Sự kiện nầy đã trút mối âu lo của Tướng Dũng về
việc lực lượng VNCH có thể điều quân tái chiếm Ban Mê Thuộc. Thế nên Dũng ra
lệnh cho Sư Đoàn 320 băng rừng truy kích đoàn di tản và Sư Đoàn 968 từ Lào về
trên đường bôn tập về hướng Pleiku cũng được lệnh đâm ngang từ ngã ba Thanh An
chuyển hướng hành quân dài theo Tỉnh Lộ 7 xuống đồng bằng vùng duyên hải miền
Trung.
Ngày 16 tháng Ba, Một Chúa Nhật điêu linh tan nát dọc con đường đỏ
sẫm đất núi và máu rây. Đoàn di tản bị chận ở phía đông Củng Sơn, bị cắt rời ở
quận Phú Túc, bị đuổi dập từ tây quận lỵ Phú Bổn. Xe tăng cán ngang lên GMC, xe
GMC hất xe đò chở thường dân xuống vực thẳm, cũng hất luôn những xe jeep nhỏ,
cán qua những chiếc xe Dodge 4 của địa phương quân chở những người già và trẻ
em tan tác. Chiếc vespa của một gia đình chạy lông lốc, xiêu vẹo trên sườn đồi,
đứa con, người vợ rơi tơi tả, người chồng, người cha rơi cuối cùng với chiếc xe
vỡ toang trên mỏm đá. Và súng nổ... 105, 155 pháo binh, hỏa tiễn TOW, XM72 của
phía cộng hòa; 130 ly, 122 ly, B40, B41 của phía cộng sản tất cả cùng hòa vào nhau
thành một luồng hỗn âm tan tác làm rung rinh sắc núi mờ nhòa ánh nắng.
Mặt trời bị chìm khuất trong khói xám. Có xác bà già ngồi dựa bờ đất bên lề
đường, người khô quắt không vết thương. Dấu hiệu sự chết chỉ được nhận biết nơi
ổ mắt, mũi, miệng... Đám kiến rừng bò lúc nhúc quay quắt đánh hơi. Ba đứa trẻ
mắt lạc thần ngồi nhìn đoạn đường hỗn loạn không cảm giác. Bé trai nhỏ nhất gục
đầu trên gối chị ngủ lay lắt.
Bao trùm tiếng la khóc khản đặc của người có âm thanh của đạn súng
sơn pháo nổ thật gần. Sư đoàn 320 Điện Biên bắn thẳng xuống đoàn di tản. Lính
còn rõ phản ứng trú ẩn, chống cự, người dân chỉ biết đưa mắt nhìn lên nơi đặt
súng, nơi có những tiếng nổ khô, ngắn trước khi bị bùng vỡ phá toang. Xác người
tung lên theo đất bay bay.Cái chết không đơn giản, mau chóng bởi súng đạn. Chết
còn bị nhận chìm từ từ trong lòng chiến xa khi chiếc xe tăng chúc đầu xuống đầu
cầu nổi bắc qua sông Ba. Chiếc cầu bắc vội mỏng manh không thể nào chứa
nỗi sức nặng vạn con người, vạn chiếc xe.. Chiếc tăng M48 như khối đá ấn mạnh
xuống lòng chén nứt vỡ. Trong lòng xe có tiếng người hét nghẹn, trên pháo tháp
có đám người ngoi ngóp, người đạp lên đầu, lưng, vai người để được thở được
sống thêm vài giây ngắn. Chiếc xe chìm xuống im lặng, kéo theo, mang theo, đè
xuống rất nhiều thây xác. Xích sắt điên cuồng đào xoáy giòng sông máu sẫm làm
quẫy lên, tung tóe những tay chân người kẹp dính đâu dưới lưn xe.
Cuối cùng đoàn di tản cũng về đến Tuy Hòa vào ngày 25 tháng Ba do
Tiểu Đoàn 58 Biệt Động dẫn đầu. Hai-trăm ngàn dân theo lính chạy loạn từ
Kontum, Pleiku nay còn khoảng sáu chục ngàn người. 200,000 trừ đi 60,000 vậy đã
chết bao nhiêu? Không ai có thể tính chính xác được số dân thiệt mạng. Người
chỉ biết và đau với trường hợp của từng người thân, của mỗi gia đình, của chính
thịt da mình. Trên chiếc trực thăng từ phi trường Đông Tác (Tuy Hòa) về Nha
Trang, viên thiếu tá ngồi ôm đứa con nhỏ, gục đầu nín thinh khi đứa bé chợt nhớ
và hỏi nhỏ... Bà nội đâu hở ba? Trong đêm khuya nơi trại tạm cư ở đèo Rù Rì,
nghe những lời than vãn rời rạc lẫn tiếng khóc nấc nghẹn ghìm ghìm. Trên bãi
biển Nha Trang từng khối người ngồi chập choạng dưới trăng khuya. Trăng vàng
chạch, đỏ nhừ nhừ như máu bầm. Trong lòng người di tản từ cao nguyên đồng bằng
trong tháng Ba năm 1975 hầu như ai cũng đọng khối máu uất nghẹn đau thương.
Khối máu oan hờn của một dân tộc điêu linh chỉ khác người dân miền Trung chịu
sớm nhất. Đau nhất.
Mùa Chúa chịu nạn giải cứu thế gian diễn ra cùng lần bức tử miền
Trung. Khởi đầu buổi Đồng Tế tàn cuộc miền Nam. Bắt đầu từ Ngày 10 Tháng Ba ở
Ban Mê Thuộc, dọc TỈnh Lộ 7 B, con lộ máu dẫn về miền duyên hải. Hóa ra không
cần đủ hết tháng Ba, để tiếp theo tháng Tư thấm máu toàn miền Nam sụp vỡ.
Thế nên, người hôm nay phải viết lại, phải nói lên – Vì nếu không sẽ có tội –
Tội với những người đã chết mà lượng người chết trên Tỉnh Lộ 7 B là oan khiên
đồng hiến tế khởi đầu lần tận diệt Quê Hương. Của Quốc Gia Việt Nam Cộng
Hòa.
Bốn Mươi Năm Trận Ban Mê Thuộc
Lần Khởi Cuộc Mất Quê Hương
(10 Tháng 3, 1975-2015)
__._,_.___
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét