Chủ Nhật, 28 tháng 4, 2013

Ngày tàn của cuộc chiến



Hồi Ký:
Ngày tàn của cuộc chiến
Lê Nguyên Bình
(Trích Ðặc san Nguyễn Khoa Nam Tiểu đề do tòa soạn đặt)
LTS: Tác giả bài dưới đây, Ðại tá Lê Nguyên Bình, là một chiến hữu nguyên là sĩ quan trong Bộ Tham Mưu của cố Thiếu tướng Nguyễn Khoa Nam. Ở phương vị này, Ðại tá Bình đã có dịp được chứng kiến nhiều sự kiện đã xảy ra trong và ngoài khuôn viên của Bộ Tư Lệnh Quân Ðoàn IV trong ngày cuối cùng của cuộc chiến đấu cho tự do.
Ðọc những lời tường thuật của một nhân chứng trong cuộc, và đặc biệt những lời tường thuật chưa hề được tiết lộ trên báo chí, người đọc, nhất là những cựu quân nhân chúng ta, không khỏi bồi hồi, xúc động nghĩ rằng chúng ta đã có những vị tướng, tá như thế mà đành phải thất trận, không cứu vãn nổi tự do thì âu cũng là tại lòng Trời còn muốn đày đọa dân Việt vậy.
**

Thứ Bảy, 27 tháng 4, 2013

VIẾT CHO THÁNG TƯ ĐEN: NỤ CƯỜI NGƯỜI TỬ TỘI


Nén Hương Lòng kính dâng lên thầy Nguyễn Ngọc Trụ trong tháng 4 đen


Để tưởng nhớ GS Nguyễn Ngọc Trụ, giảng viên môn Tư Tưởng Chính Trị, Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam.
***
VIẾT CHO THÁNG TƯ ĐEN: NỤ CƯỜI NGƯỜI TỬ TỘI


Đó là một buổi chiều ảm đạm vào khoảng tháng Sáu năm 1977 ở trại giam Suối Máu thuộc thành phố Biên Hòa. Vậy mà đã mười năm.
Mười năm xuôi ngược bên trời
Xót thân tơ liễu, xót đời bể dâu.
Mười năm hoa lá ưu sầu
Vàng tan, ngọc nát nhìn nhau ngậm ngùi
Mười năm vật đổi, sao dời
Em sầu thiếu phụ ngậm ngùi lòng ta.
Mười năm cánh vạc bay qua
Mười năm biết mấy xót xa đoạn trường
Mười năm lệ xối xả tuôn
Có bao thiếu phụ thành hòn vọng phu?
Mười năm một mảnh trăng lu
Trăng soi đâu tỏ nỗi sầu nhân gian.
Mười năm mắt lệ ngỡ ngàng
Lòng đâu muốn khóc lệ tràn quanh mi.
Mười năm ai hát biệt ly
Để cho núi cắt, biển chia lối về.
Tôi biết dù mười năm hay nhiều hơn nữa, tôi cũng chẳng bao giờ quên được nụ cười của Nguyễn Ngọc Trụ - người tù dũng cảm ngay trong ngục tù cộng sản đã nói lên những sự thực và mỉm cười bước vào cõi hư vô.

Thứ Bảy, 20 tháng 4, 2013

Người Chiến Sĩ VNCH ngày cuối cùng của cuộc chiến


Người Chiến Sĩ VNCH ngày cuối cùng của cuộc chiến


Canh bạc chưa chơi mà hết vốn
Cờ còn nước đánh phải đành thua(*)

Vào ngày cuối cùng của cuộc chiến, khi mà mọi giới đều hiểu rằng không còn gì có thể cứu vãn được nữa thì người chiến sĩ VNCH vẫn chiến đấu dũng cảm. Một vài tài liệu sau đây cho chúng ta khẳng định như thế:




1/ Tài liệu của Không Lực Hoa Kỳ – chương trình di tản “Frequent Wind” có viết rằng: Trong khi phi trường bị tấn công thì 2 chiếc Al (Skyraider chiến đấu có cánh quạt của Không lực VNCH) đã bay lượn trên không phận Saigon để truy lùng các vị trí pháo kích của địch. Một trong hai chiếc bị hỏa tiễn SA-7 bắn hạ.




Trong khi đó, nhiều người đã không e sợ, đổ xô ra ngoài để nhìn một chiếc phi cơ “Rồng lửa” AC-119 đang nhào lộn và xả súng (đại liên 6 nồng Gatling) bắn một vị trí của bộ đội Bắc Việt ở ngay gần cuối hướng đông Tân Sơn Nhất. Vàokhoảng 7 giờ sáng 29/4, chiếc phi cơ anh dũng của VNCH đã bị trúng hỏa tiễn SA-7 của địch và bốc cháy rồi đâm nhào xuống mặt đất.

Chủ Nhật, 14 tháng 4, 2013

Bị Gạt



Trương Văn Út
(Mũ Đỏ Út Bạch Lan)


Chúng ta đã sinh ra lầm thế kỷ
Nước mắt, nụ cười gian dối gạt lừa nhau.
Và hạt cát cũng căng đầy thù hận
Tri kỷ gì thứ tình nghĩa đã chia ly…?!

"Văn Chương Miệt Vườn" thành danh, thành điển tích như Cụ Đồ Chiểu đã hoa gấm đi vào Văn Học Sử thênh thang rất đáng kính cẩn và trân trọng...còn thứ “văn tri chướng; cà chớn hạng” của tôi đọc “dễ hiểu” chỉ để tiêu khiển “một vài trống canh”, lại có đôi chút “gút mắc” với một số
“nhân vật chí” hiện thân, hiện thời đang sinh hoạt chìm nổi tại xứ người tự do, hành sự khuất tất phía sau hậu trường “cung đình Đỏ” rối như mớ bòng bong…quả thật là không đơn thuần giản dị chút nào, là thật sự “khó tiêu” và đáng tiếc vô song ! Vì “cánh màng nhung” của vỡ bi hài kịch có vô số thân xác, máu xương, da thịt người Việt làm “phân bón” cho loài “cây” gian độc rúc rỉa sinh sống, đơm hoa kết trái vật chất, tiền tài, tích sản là thành quả của trí “khôn” gian trá vô lượng đã “biết” thức thời vụ với “đại âm mưu” là “đại biện chứng” mà thành “gian nhân hiệp đảng” mặc tình lấy cường bạo thịnh thời vung tay bẩn mà che cao xanh, lấy vải ác độc mà bịt nhân đức…hỏi được bao lâu “con rắn hồng lột xác” vẫn chưa xong và chưa chung cuộc hý trường…như tôi viết ở khoảng không du du bỉ phương và thiên võng khôi khôi sơ nhi bất thất… giữa hai hàng chữ không giản dị chút nào và đáng
tiếc …?! Mong quí Độc Giã độ lượng tha thứ.

Thứ Hai, 8 tháng 4, 2013

Tháng Tư Đen, Tháng Tư Sáng: Chuyện Thiếu Tá Thiên Nga Nguyễn Thanh Thủy

 Từ Đắng Cay Hậu Chiến...

Trang Đài Glassey - Trần Nguyễn

Nhân Tháng Tư Đen năm thứ 37, từ nay mỗi cuối tuần, Viết Về Nước Mỹ sẽ là loạt bài đặc biệt do tác giả Trangđài Glassey-Trầnguyễn thực hiện trong Dự án “Tháng Tư Đen, Tháng Tư Sáng” về những ảnh hưởng của tang thương và mất mát trên đời sống tình cảm của người Việt hải ngoại qua sự bảo trợ của tiểu bang California cho Chương trình Báo chí về Y tế Sức khỏe (CEHJF), và do Trường Báo chí và Thông tin Annenberg của Đại học University of Southern California tổ chức. Cô sử dụng phương pháp lịch sử truyền khẩu, cùng kinh nghiệm dấn thân cộng đồng, và tư duy trải nghiệm.

This project “Black April, Bright April” © is produced using oral history, community participation, and lived perspectives. Trangđài Glassey-Trầnguyễn reporting on trauma, loss, and emotional health in the Vietnamese diasporas was undertaken as part of the 2011-12 California Endowment Health Journalism Fellowships (CEHJF), a program of the University of Southern Californias Annenberg School for Communication & Journalism.

CHỦ TRƯƠNG CỦA NGƯỜI THỰC HIỆN:

Từ năm 1976 đến nay, mỗi Tháng Tư là một thời gian hồi tưởng, truy niệm chung cho người Việt hải ngoại. Qua dự án này, tôi muốn quy nhận truyền thống tưởng niệm này của Cộng đồng người Việt hải ngoại. Đồng thời, tôi cũng muốn đón nhận và đưa lên giá cao những ngọn đèn đã làm cho Tháng Tư 1975 không chỉ còn là một ngày của bạo lực và mất mát. Chúng ta đã xây dựng những Tiểu Việt Nam khắp dọc dài thế giới. Chúng ta đã nuôi dạy nhiều thế hệ trẻ thành nhân tài xứ người. Chúng ta đã xoay ngược thế cờ, dùng sức mạnh của thế giới và tư duy đương đại để gìn giữ lịch sử và phát triển tương lai. Những ngọn đèn đó vẫn tỏa sáng giữa chúng ta – là chính ông bà, cha mẹ, anh chị em, con cái của chúng ta – đang thắp lên một bình minh mới trên những đổ nát hôm qua. Chúng ta không chỉ có một Tháng Tư Đen, mà chính mỗi chúng ta cũng là hiện thân của một Tháng Tư Sáng.

PHẦN 1(4): MƯỜI BA NĂM KHỔ SAI

Những ngày sau 30 tháng Tư, 1975 chắc chắn là những ngày kinh hoàng nhất cho rất nhiều gia đình tại miền Nam Việt Nam. Nhưng đối với một số người, những ngày ấy kéo dài tưởng như vô tận, đến mười mấy năm, mà mỗi ngày là một thế kỷ của nhọc nhằn và mỗi đêm là một trường canh của kinh sợ.

Thứ Bảy, 23 tháng 3, 2013

Quá khứ của đất nước Việt Nam quá đau thương làm sao quên được !



THÁNG BA TRÊN TỈNH LỘ 7B.
( Cảm tác theo hình ảnh và bài viết của Phi Loan- Hoàng Thị Cỏ May).

Tháng Ba trên tỉnh lộ 7B,
Đoàn người chạy loạn dài lê thê,
Người mẹ tất tả đôi quang gánh,
Gia tài là những đứa con kia.
Thằng anh túm áo mẹ bước theo,
Thằng em ngồi trong thúng thơ ngây,
Chắc nó tưởng trò chơi chốc lát,
Mẹ gánh về nhà như mọi ngày.
Theo dòng người mẹ nó bước mau,
Cha nó còn cố thủ dãi dầu?
Người lính tan hàng không đơn vị,
Những ngày cuối cùng anh ở đâu ?
Có người di tản từ Pleiku,
Phố núi cao, phố núi sương mù,
Hoa Dã Quỳ vẫn vàng đâu đó,
Nước vẫn trong xanh nước Biển Hồ.
Có người di tản từ Kontum,
Đạn bom xé nát rừng cao nguyên,
Người dân ngơ ngác rời thành phố,
Nỗi buồn cao như đỉnh Ngọc Linh.
Người ta gọi nhau trong hãi hùng,
Kẻ ngược người xuôi, đường mịt mùng ,
Về Tuy Hòa hay đi Phú Bổn ?
Có nơi nào bình yên hơn không?
Tiếng khóc, tiếng súng, tiếng còi xe,
Rợn người như từ ác mộng về,
Bên đường đồ đạc nằm vương vãi,
Người bên người mà vẫn phân ly.
Bao quân, dân, cán, chính miền Nam ,
Trên tỉnh lộ này đã hi sinh,
Quân đoàn 2 rút quân, triệt thoái,
16 tháng Ba năm 75.
Đường liên tỉnh lộ 7B ơi,
Bao tháng Ba qua, bao ngậm ngùi,
Bốn phương tám hướng đời dâu bể,
Ai có thể quên kỷ niệm này.
Nguyễn Thị Thanh Dương.
( March 20, 2013 )
******************************

38 năm qua, xin được mời các anh chị đọc để nhớ về thăng trầm và khổ đau cuả dân tộc mình trên chặng đường di tản trong biến động 1975 trên con đường tỉnh lộ 7B

Thứ Bảy, 23 tháng 2, 2013

Nhảy Dù và Cổ Thành Đinh Công Tráng



Trương Đăng Sỹ

Kính gởi Niên Trưởng Giao Chỉ (San Jose)

Nhân đọc được bài “Trong đêm đen chợt thấy ánh mặt trời” của Niên trưởng, tôi đã quyết định cầm lại cây bút. Nặng nề, đắn đo, suy nghĩ suốt mấy đêm liền …

Sau cùng tôi thấy mình có trách nhiệm phải nói lên một sự thật của lịch sử và nhất là vinh danh những chiến hữu, những đệ tử thâm tình đã vĩnh viễn nằm xuống bên bờ Cổ thành Đinh Công Tráng (Quảng Trị) vào mùa Hè đỏ lửa 1972.

Ngắn gọn để tự giới thiệu với Niên trưởng, tôi là cựu Thiếu Tá Trương Đăng Sỹ, xuất thân Khóa 21 Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam Dalat, Đại Đội trưởng Đại Đội 51 Tiểu đoàn 5 Nhảy Dù, được Trung Tá Nguyễn Chí Hiếu, Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 5 trao trọn trách nhiệm tổng chỉ huy điều động lực lượng tiền phương tiến chiếm Cổ thành Quảng Trị vào năm 1972. Hiện nay, tôi đang sinh sống tại Sydney, Australia.

Con Đường Dài Thăm Nuôi



“Thuở trời đất nổi cơn gió bụi,
Khách má hồng nhiều nổi truân chuyên”
(Chinh Phụ Ngâm)

Chuông đồng hồ trên tường gõ bốn tiếng, tôi cựa mình thức giấc. Từ lúc nửa đêm về sáng tôi đã trằn trọc mãi không dỗ được giấc ngủ. Tôi mãi bận tâm cho chuyến đi thăm nuôi lần này. Tôi không biết mọi sự có được suông sẻ hay không trên quãng đường từ Nam ra Bắc xa vời vợi. Các con còn bé ở nhà ăn chơi có được khoẻ mạnh không? Sức khoẻ của chồng tôi hiện đang ở Vĩnh Phú thế nào? Trong lá thư mới nhất anh gởi về nhà, viết: “Anh vẫn khoẻ, học tập tốt, lao động tốt để sớm về với em và các con, ngày về không còn bao lâu nữa”. Trời ơi, bao năm rồi những lá thư gởi về nhà vẫn là những dòng viết theo quy định của trại, cũng ngần ấy ý, không hơn không kém. Mới tuần trước, tôi đến thăm một chị bạn có chồng học tập ở Vĩnh Quang. Anh gửi về cho chị thư bảo: “Sức khoẻ anh rất tốt, người anh mập ra” Chị ấy ôm tôi khóc ngất:
“Vừa có tin về, anh mất rồi bồ ơi! Anh bị phù thủng mà không có thuốc, lại hằng ngày ăn bắp hột và nước muối, anh đã vội ra đi mà không chờ mình ra thăm!”

Vinh Phạm K19 Post



Tâm Bút của Cựu Đại Tá Trần Ngọc Huyến Gửi Các “Cùi”
(Đã phổ biến năm 2004)
Các "Cùi" thân mến,
Tôi đã gác bút nhiều năm. Vì tuy không dám ví mình với nhà thơ tiền bối, đôi khi rút tập giấy trắng để trên bàn định viết, tôi lại vứt bút đứng dậy:
- "Câu VĂN nghĩ đắn đo chẵng viết,
Viết CHO ai, ai biết mà đưa?
Nhưng vừa rồi, anh Hiển đến nhắc tôi: tháng 12 nầy là kỷ niệm 25 năm khoá 16 tốt nghiệp và đề nghị tôi viết một bài cho bản Tin-Tức của các anh.
Vì vậy hôm nay, tôi đang làm ngược cái thông lệ trong giờ nhàn rỗi của tôi (là ngồi yên nghe thiên hạ xào xáo, rồi có khi thì ngửng đầu lên trời cười hô hố một tràng, khi khác lại chạy vào phòng rửa tay, nhổ bãi nước bọt, rồi chửi thề rất tục một mình), để cầm bút viết bài nầy đến những ai còn muốn nhận mình là "Cùi", thuộc Khoá 16 hoặc các khóa khác về sau.

Thứ Tư, 6 tháng 2, 2013

Vụ án Trần Quang Trân ở trại tù Tiên Lãnh




Vụ án Trần Quang Trân ở trại tù Tiên Lãnh

(Trích đoạn hồi ký của Bác Sĩ PHÙNG VĂN HẠNH)

Tôi muốn nói lên những đau khổ chất ngất của anh em tù chính trị và quân đội trong ngục tù Tiên Lãnh. Làm y tế trại, tôi được gọi lên phòng kiên giam để xác nhận cái chết của Nguyễn Công Vĩnh. Trước kia anh to con, nhưng bây giờ xác anh teo táp, co rúm, da bọc xương, gò má lồi cao, hai mắt mở trừng trừng. Anh ta chết vì đói. Bọn cai tù có lệnh không cho anh ăn uống. Bọn trật tự kể lại là những ngày cuối, trong mê sảng, anh bốc những con dòi bò trong đường cống lên ăn, chắc anh tưởng là hạt cơm. Ðường cống là một cái rảnh dọc theo bờ tường phòng kiên giam, dùng cho tù phạm tiêu, tiểu tiện vào đấy. Chắc có nhiều hồi ký trại giam Cộng sản đã tả cái dã man, tinh vi của cái cùm sắt dài xuyên từ bờ tường này đến bờ tường kia. Cảnh cô độc, đói khát, mơ tưởng những món ăn thời tự do, những tiểu xảo để giết thì giờ thiên thu và để kéo dài chịu đựng, nói lên cái tàn bạo chưa từng có của kiên giam. Chuồng cọp Côn Ðảo là thiên đường sánh với kiên giam.

VIẾNG NGHĨA TRANG QĐ BIÊN HÒA


VING NGHĨA TRANG QUÂN ĐI BIÊN HÒA - 02.02.2013
HLTLTRONG NƯỚC,VNCH2/03/2013
Những ngày cuối năm, nhiều gia đình người Việt vẫn duy trì phong tục tảo mộ ngày xuân. Vào dịp này, họ thường thăm viếng nghĩa trang để dọn dẹp, sửa sang mộ phần người đã khuất với niềm tin rằng hương hồn của những người quá vãng về ăn tết cùng con cháu.

Tại Việt Nam, hiện vẫn còn hơn 16.000 ngôi mộ quanh năm cô quạnh. Gần tết, những ngôi mộ càng trở nên lạnh lẽo, đây là nơi yên nghỉ của các tử sĩ quân lực Việt Nam Cộng Hòa.
Lương tâm con người không khỏi xót xa và thúc đẩy chúng tôi phải làm một điều gì đó để chia sẻ với họ, những người gần như đã bị quên lãng suốt gần 38 năm nay.
Sáng ngày 02.02.2013, chúng tôi đã có cuộc viếng thăm nghĩa trang Quân đội Biên Hòa. Có mặt tại đền Tử sĩ hơn 7h sáng, chúng tôi cùng nhau quét dọn, sửa sang, dâng hương và cầu nguyện, rồi cùng nhau qua phía nghĩa trang để thắp hương và cầu nguyện cho những người đã khuất.

Khi vào cổng, bảo vệ bắt chúng tôi phải đăng ký họ tên và chứng minh nhân dân, trong bảng nội quy thăm viếng không hề nhắc đến điều này. Dù vậy, chúng tôi vẫn bày tỏ sự thiện chí.
Sau khi đăng ký xong, xe chúng tôi vào trong để thắp hương thì lập tức có khoảng 4-5 người đi theo vào trong. Khi xe vừa dừng, có một chú đến bắt chuyện với linh mục Anton Lê Ngọc Thanh:
- Tôi biết ông này là Cha (trong khi Cha Thanh không hề mặc áo nhà dòng).
Những người đó giới thiệu với chúng tôi, họ là những người canh và quét dọn nghĩa trang.
Khoảng 1 phút sau, có một người đàn ông trung niên tóc dài đã lốm đốm trắng chạy xe đến yêu cầu chúng tôi không được chụp hình, đồng thời căn dặn những người đi theo chúng tôi điều gì đó.
Chúng tôi bắt đầu đặt hoa và đốt nhang, một anh trong đoàn mang theo máy để chụp hình lưu niệm thì bị một chú nhắc nhở không cho chụp hình. Chúng tôi hỏi:
- Vì sao vậy chú?
- Ở đây cấm chụp hình, quay phim.
- Chúng tôi có thấy bảng cấm chụp hình đâu? Trong nội quy thăm viếng cũng không cấm mà.
- Các anh chị thông cảm. Chỉ đạo của bên an ninh không cho chụp hình.
- Ủa... Nghĩa trang mà cũng có an ninh chỉ đạo nữa hả chú?
- Có chứ. Phòng bảo vệ chính trị của tỉnh ngày nào mà chẳng cắt cử người xuống đây canh...
Chúng tôi bắt đầu chia ra thắp hương cho từng ngôi mộ. Đa số các ngôi mộ đều xuống cấp, sụp đổ, hoang tàn. Những ngôi mộ không có thân nhân đều chỉ xây bằng đất. Họ trồng cây cối xung quanh, rễ cây ăn sâu vào mộ khiến cho một số ngôi mộ bị trồi lên. Nhìn thấy Đài Nghĩa Dũng đang được xây mới, chúng tôi hỏi những người đi theo:
- Đài đó được ai bỏ tiền ra xây lại ạ?
- Không. Do nhà nước bỏ tiền ra xây lại đấy.
- Vậy những ngôi mộ ở đây sao có những ngôi mộ được xây rất đẹp, có những ngôi mộ xây bằng xi măng qua loa, có những ngôi mộ chỉ bằng đất thôi vậy chú?
- Những ngôi mộ được xây đẹp đa số là do thân nhân họ xây lại.
- Vậy những ngôi mộ không có thân nhân thì không được xây lại hả chú? Sao nhà nước không bỏ tiền ra xây mộ lại mà lại xây Đài kia?
- Nhà nước "bên kia" họ bỏ tiền ra xây đó...
Xong việc, chúng tôi tập trung lại để đọc kinh cầu nguyện (vì đa số những người đi viếng là người Công giáo) nhưng lại bị nhắc nhở:
- Ở đây không được làm lễ hay đọc kinh cầu nguyện nên các anh chị thông cảm. Nếu có đọc kinh thì đọc thầm trong miệng để chúng tôi khỏi khó xử với an ninh.
Vì mục đích của chúng tôi là thăm viếng, thắp hương để linh hồn các anh được ấm áp trong những ngày cuối năm nên chúng tôi cũng đành chấp nhận để hoàn thành xong công việc.
Chuyến viếng thăm để lại trong tôi nhiều suy nghĩ, nhất là về chủ trương của những người tự nhận 'bên thắng cuộc'.
Để hòa giải, hòa hợp dân tộc như đã tuyên truyền, trước hết hãy biết hòa giải với những người khác chính kiến, nhất là đối với những người đã khuất.

Nguyễn Hoàng Vi
danlambaovn.blogspot.com
@Facebook: VIẾNG NGHĨA TRANG QĐ BIÊN HÒA - 02.02.2013.



Ba tôi . . . Người Lính đổi màu


Nguyễn Khắp Nơi





Ba mươi tám năm trôi qua thật nhanh.
Mới ngày nào, tôi chỉ là một đứa bé học lớp Hai của trường Tiểu Học Bàn Cờ, nay đã là một trung niên 44 tuổi đầu. Tuy tôi đã có gia đình riêng, đang có việc làm và vẫn sống ở khu Bàn Cờ này, nhưng tương lai không biết đi về đâu!
Khi còn nhỏ, tôi nghe rất nhiều người chung quanh tôi, mỗi khi nói về thời gian, họ thường dùng chữ . . . "Trước ngày giải phóng" hoặc "Sau ngày giải phóng". Lúc đó tôi còn nhỏ quá, chẳng hiểu giải phóng là cái gì? Trước giải phóng là ngày tháng năm nào? Sau giả phóng là ngày tháng năm nào? Khi lớn lên, đã hiểu được chữ giải phóng, đám chúng tôi không dùng những chữ đó, mà chỉ nói: “Thời Cộng Hoà” và “Thời bị đô hộ” mà thôi. Nhắc như vậy để nhớ thân phận của mình.
Vào thời điểm tháng Tư năm 1975, tôi mới được bẩy tuổi đầu, đang học ở trường Tiểu học Bàn Cờ. Với số tuổi đó, tôi không nhớ nhiều những chuyện xẩy ra chung quanh tôi, chỉ nhớ là vào những ngày tháng cuối cùng của thời Cộng Hoà, anh em tôi và đám bạn bè chòm xóm hàng ngày đều cắp sách vớ đến trường học. Tôi có sách in để tập đọc và những cuốn vở giấy trắng để tập viết. Tôi tập viết bằng bút chì và dùng bút bi để tô lại những giòng chữ đã viết bằng bút chì trước đó.
Vào một buổi sáng, khi anh em tôi sửa soạn đi học thì chợt nghe những tiếng nổ lớn thật gần, lúc thì nghe như ở ngoài đường và khi thì đường như ở trên không. Má tôi dặn hai anh em tôi ở trong nhà, không được đi đâu, để má chạy ra ngoài ngõ xem xét tình hình. Anh Trung, anh lớn của tôi lúc đó đã lên học trung học rồi, anh hiểu biết hơn tôi nhiều lắm, anh chạy ra cửa sổ nhìn lên trời một lúc rồi la lên thật lớn:
"Máy bay trực thăng bay nhiều quá! Lại đây coi nè Nam, không biết lính mình bay đi đâu mà nhiều vậy cà?"
Tôi chạy lại chỗ anh Trung, nhìn theo hướng anh chỉ, thấy ba chiếc máy bay trực thăng đang bay xát với nhau ở trên trời, phía sau lại có thêm ba chiếc nữa. Anh tôi đã lớn, có thắc mắc là phải, còn tôi thì đâu có biết gì đâu mà hỏi. Một lát sau thì mẹ tôi chạy trở về, nói với anh em tôi:
"Ngoài đường người ta chạy đông lắm. Có người nói máy bay của mình đã ném bom vào phi trường Tân Sơn Nhứt, khói đen bay đầy trời. Thôi, bữa nay tụi con nghỉ học đi, để mai mốt coi ra sao."
Má tôi quay trở vào bếp ngồi lui cui sửa soạn gánh hàng đem ra chợ bán. Tôi thấy má tôi ngồi đó thôi chứ không làm được gì, một hồi, bà lên nhà trên nói với anh Hai tôi:
"Hổng biết ba mày lúc rày đang ở đâu nữa? Đánh tới Sàigòn rồi!"
Đi tới đi lui trong nhà một hồi, má tôi lại nói với anh em tôi:
"Hai đứa bay ở nhà, má qua nhà Bác Bẩy để hỏi coi bả có đi chợ bán hông?"
Hai anh em tôi lại trở lại cửa sổ đứng nhìn máy bay bay, một hồi vẫn chưa thấy má tôi về, anh Trung biểu tôi lấy mấy cuốn tập ra để anh chỉ tập đọc. Tới gần trưa má tôi mới trở về nhà, mặt má buồn rầu rầu, nói với tụi tôi:
"Má đi ráp xóm, hổng ai muốn ra chợ hết trơn. Dì Tám thì lo xếp quần áo đồ ăn khô đặng lỡ Việt cộng đánh vô như hồi Tết Mậu Thân, còn có đồ mà chạy, có đồ mà ăn. Để má cũng xếp cho tụi con đứa một bọc đặng lo thân. Má có hỏi, nhưng bác Bẩy Trai với dương Tám cũng còn ở đơn vị, không có về, chắc đánh lớn lắm."